Key takeaway
TT99 đơn giản hóa kế toán tỷ giá: doanh nghiệp chỉ cần chọn một trong hai loại tỷ giá (tỷ giá mua bán bình quân chuyển khoản hoặc tỷ giá xấp xỉ ±1%) áp dụng thống nhất cho mọi nghiệp vụ phát sinh và đánh giá lại cuối kỳ - không còn phải phân biệt tỷ giá mua/bán theo từng loại nghiệp vụ như TT200.
WHAT
Kế toán tỷ giá ngoại tệ là quy định ghi nhận và đánh giá lại các khoản mục có gốc ngoại tệ trên báo cáo tài chính. Bao gồm: (1) Tỷ giá thực tế (phát sinh trong kỳ và đánh giá lại cuối kỳ); (2) Tỷ giá ghi sổ (khi thu/chi xử lý các khoản đã ghi nhận). Chênh lệch tỷ giá ghi vào thu nhập hoặc chi phí tài chính.
WHY/HOW
TT200: phân biệt tỷ giá mua (đối với tài sản) hay tỷ giá bán (đối với nợ phải trả) khi đánh giá lại cuối kỳ; tỷ giá ghi sổ theo đích danh từng nghiệp vụ. TT53/2016: bổ sung cho dùng tỷ giá bình quân. TT99: hợp nhất TT53 vào - chỉ dùng tỷ giá mua bán bình quân chuyển khoản (tính hàng ngày/tuần/tháng) hoặc xấp xỉ (±1%) cho tất cả nghiệp vụ. Tỷ giá ghi sổ: bình quân gia quyền di động có thể áp dụng cả cho công nợ phải thu/trả (không chỉ tiền). Phải thuyết minh chính sách tỷ giá trong BCTC.
Related
Notes
- 2025-11
- Thay đổi chính: bỏ phân biệt tỷ giá mua/bán theo loại khoản mục khi đánh giá lại cuối kỳ
- Tỷ giá xấp xỉ: chênh lệch không quá biên độ NHNN cho phép (rộng hơn ±3% của TT200)
- Lý do nới lỏng: đồng tiền biên độ rộng (JPY, KRW) gây khó khăn trước đây; nay cho doanh nghiệp tự xét đoán
- Tỷ giá ghi sổ bình quân gia quyền di động: áp dụng được cho cả bên có công nợ phải thu (không chỉ tài khoản tiền)
- Chuyển đổi BCTC: biên độ xấp xỉ nới từ ±3% lên theo biên độ NHNN (lợi cho doanh nghiệp dùng JPY, KRW)