Key takeaway

Tỷ lệ bao phủ nợ xấu (LLR) là số dư dự phòng chia cho nợ xấu; tỷ lệ cao là bộ đệm an toàn, và xu hướng tăng/giảm so với cùng kỳ cho biết dư địa lợi nhuận ngân hàng năm sau (đã trích nhiều thì năm sau có thể giảm trích).

WHAT

Tỷ lệ bao phủ nợ xấu (Loan Loss Reserve - LLR, NPL coverage) = số dư dự phòng rủi ro tín dụng / dư nợ nhóm 3 đến nhóm 5 (nợ xấu). Số dư dự phòng = số dư đầu kỳ + dự phòng chung và dự phòng cụ thể trích trong kỳ.

WHY/HOW

  • Tỷ lệ cao = ngân hàng đã “để dành” nhiều cho phần nợ xấu, an toàn hơn (ví dụ Vietcombank truyền thống thận trọng nhất).
  • Quan trọng là so với cùng kỳ (và lý tưởng là so quý trước) để đọc triển vọng, không chỉ nhìn số tuyệt đối cao/thấp.
  • Hai hệ quả cho năm sau: (1) nếu năm nay trích lập mạnh đẩy LLR lên cao thì năm sau có thể giảm trích - cơ hội cho lợi nhuận; (2) LLR phục hồi mạnh cho phép ngân hàng chấp nhận rủi ro cao hơn để mở rộng tín dụng.
  • Đọc cùng với LDR và NIM để đánh giá tổng thể chất lượng và triển vọng ngân hàng.

Notes

  • 2026-05

    • Dữ liệu ngành: LLR đạt đỉnh 142.7% rồi giảm về 102.8% tại Q2/2023; xu hướng giảm phản ánh nợ xấu tích lũy nhanh hơn tốc độ trích lập
    • So sánh cuối 2023: VCB có LLR 270.09% (cao nhất), NPL 1.21% (thấp nhất); VPB NIM cao nhất 5.85% nhưng NPL 5.74%, LLR thấp rủi ro cao dù biên lãi hấp dẫn
    • LLR < 100%: trích lập dự phòng không đủ bao phủ nợ xấu nội bảng rủi ro chi phí dự phòng tăng mạnh các kỳ tới, ép lợi nhuận
    • NH có LLR cao (trích lập dư) có thể hoàn nhập dự phòng để đẩy lợi nhuận khi tình hình tín dụng cải thiện - VCB là ví dụ điển hình
  • 2026-03

    • VPB LLR chỉ ~55-57% (MBS: dưới 60%) - thấp đáng kể so với các ngân hàng cùng ngành (Vietcombank >200%, ACB >80%); với NPL hợp nhất 3.33% và FE Credit NPL 15%, bộ đệm mỏng này là rủi ro nếu chu kỳ tín dụng xấu đi
    • Chi phí tín dụng VPB giảm 133bps YoY trong 2025 là yếu tố chính giúp lợi nhuận tăng 52% - nhưng nếu NPL FE Credit không tiếp tục cải thiện, áp lực trích lập sẽ quay lại và bóp lợi nhuận; LLR thấp = ít dư địa để giảm trích lập thêm trong năm tiếp theo
    • VCB cuối 2025: NPL 0.58%, LLCR 258-259% - dẫn đầu toàn hệ thống; nợ nhóm 2 giảm 11bps QoQ xuống 0.16% - thấp nhất nhiều quý (BVSC, KBSV)
    • VCB hoàn nhập ~2,700 tỷ dự phòng cụ thể Q4/2025 từ các khoản dư nợ giai đoạn COVID-19 - xu hướng hoàn nhập Q4 đã lặp lại 4 năm liên tiếp (BSC)
    • BVSC cảnh báo: LLCR VCB giảm 28 điểm % xuống 174%, chi phí dự phòng 2026F dự kiến tăng gần gấp đôi lên 6,043 tỷ
    • KBSV dự phóng NPL 2026F cải thiện về 0.70%; SSI dự phóng 0.80%; SHS/BVSC thận trọng hơn ở 0.97-1.07% - phản ánh giả định khác nhau về rủi ro BĐS và TPDN nhóm 4
    • TCB LLCR 128.1% cuối 2025 - top 3 hệ thống; NPL 1.07% thấp nhất kể từ 2023, nợ nhóm 2 giảm còn 0.5%
    • Rủi ro: nợ nhóm 5 tăng 16% QoQ trong Q3/2025; NPL KHCN cho vay mua nhà 2.02%
    • CAR Basel II 14.6% - thuộc nhóm cao nhất ngành, tạo đệm vốn đủ để hấp thụ nợ xấu tiềm ẩn
    • MBB dự phòng cho vay Q4/2025: 13,151 tỷ (1.21% dư nợ gộp 1,084,019 tỷ), giảm từ 1.49% cuối 2024 - tỷ lệ bao phủ đang mỏng dần khi tín dụng tăng 40% YoY; chi phí dự phòng giảm -42.9% QoQ Q4/2025 nhưng đây cũng là lý do bộ đệm thu hẹp
    • ABS dự phóng LLC (Loan Loss Coverage) MBB chạm 100% năm 2026F khi chất lượng tài sản phục hồi sau chu kỳ trích lập 2023-2024; mức LLC hiện tại cần theo dõi đối chiếu với NPL thực tế để đánh giá dư địa giảm chi phí dự phòng năm sau
    • CTG: LLCR đạt 159% cuối 2025 (SSI), trong khi KBSV ghi nhận 176% tại Q3/2025 - xếp thứ 2 toàn hệ thống sau VCB; xu hướng tích lũy tăng liên tục từ 135% (Q4/2024) lên 136% (Q1/2025) - 176% (Q3/2025) phản ánh chiến lược trích lập chủ động
    • LLCR CTG dự kiến giảm về 132% (2026F, SSI) và 140.8% (2026F, MBS) khi chi phí tín dụng thấp làm giảm bổ sung dự phòng; LLCR giảm trong khi NPL ổn định là dấu hiệu ngân hàng tự tin dùng buffer tích lũy để hỗ trợ lợi nhuận
    • Cơ chế thu hồi nợ xấu đã xử lý của CTG (~10 nghìn tỷ/năm) là điểm khác biệt: khoản thu hồi này không ảnh hưởng đến LLCR nhưng trực tiếp tăng lợi nhuận và giảm nhu cầu trích lập mới - vòng phản hồi tích cực
    • ACB: LLCR (NPL Coverage) cải thiện mạnh lên 114.29% cuối 2025 nhờ trích lập đột biến Q4; NPL giảm từ 1.49% (cuối 2024) xuống 0.97% (cuối 2025) - mức best-in-class tương đương VCB trong nhóm NHTMCP tư nhân
    • LLCR >100% là ngưỡng an toàn - tức dự phòng đủ bù toàn bộ nợ xấu hiện tại; khi LLCR cao và NPL ổn định, ngân hàng có thể hoàn nhập dự phòng để tăng lợi nhuận các kỳ sau
  • 2026-02

    • Ngân hàng nhóm nợ chia 5 nhóm; nợ xấu là nhóm 3-5; nhóm 5 (khả năng mất vốn) phải trích 100%.
    • Ví dụ 2025: ACB tăng từ 77,92% lên 114,29%; Vietcombank từ ~131% xuống quanh 220-258%; STB chỉ ~49,97% sau khi trích mười mấy nghìn tỷ; HDB ~54%, VPB ~55%.
    • LLR dưới 100% nghĩa là dự phòng chưa phủ hết nợ xấu - rủi ro cao hơn.
  • 2025-11

    • Q3/2025 snapshot: CTG ~176% (tăng từ 135%, xu hướng tích lũy 8 quý), VCB cao nhưng giảm nhẹ, ACB 84%, MBB giảm do CIC chuyển nhóm nợ, SHB rất thấp.
    • Lãi dự thu (lãi phải thu): CTG tăng từ 13,3 lên 16,3 tỷ, TCB cũng cần theo dõi - tín hiệu nợ chưa thu được nhưng đã ghi vào thu nhập.
    • Ngân hàng BĐS: tài sản đảm bảo tăng giá che khuất nợ xấu thực, dễ bị bao phủ ảo.
    • Phân tích theo xu hướng 8 quý liên tiếp cho thấy chiến lược trích lập rõ hơn con số tại một thời điểm.
  • 2025-07

    • Q1/2025: CTG đạt 136%; VCB có dư địa cải thiện bao phủ nhiều nhất trong ngành
    • Sau khi TT02 hết hiệu lực 31/12/2024, nợ xấu tăng mạnh Q1-Q2/2025, hầu hết ngân hàng còn ít dư địa để tăng bao phủ trong H2/2025
    • VP đặc thù: dự phòng theo từng khoản phát sinh (do tín dụng tiêu dùng), tỷ lệ bao phủ thấp nhưng không phản ánh rủi ro quản trị yếu
  • 2025-03

    • ACB: LLR giảm mạnh từ 209.4% (2021) xuống 77.9% (2024) do nợ xấu tăng nhanh hơn trích lập; dù vậy nợ nhóm 5 đã được trích lập 100% - cho thấy chiến lược trích lập chọn lọc theo nhóm nợ - ACB
  • 2024-06

    • Tỷ lệ bao phủ nợ xấu trung bình 27 ngân hàng niêm yết giảm xuống 88,7% trong Q1/2024 - lần đầu xuống dưới 100%
    • Trước đó tỷ lệ này luôn trên 100%; đỉnh cao từng đạt >150%
    • Xu hướng giảm ở tất cả nhóm: NHTM quốc doanh, tư nhân lớn, chuyên cho vay cá nhân
  • 2023-08

    • Tỷ lệ bao phủ nợ xấu toàn hệ thống ngân hàng VN giảm từ 127% xuống 102% trong 2 quý đầu 2023
    • Nợ nhóm 2 (nợ cần chú ý - tiền thân của nợ xấu) tăng nhanh, áp lực trích lập dự phòng sẽ lớn trong Q3-Q4/2023
    • VPBank có tỷ lệ NPL cao nhất hệ thống; nhiều ngân hàng thương mại tư nhân vừa tiệm cận mốc nhạy cảm 3%
    • Ngân hàng có tỷ lệ bao phủ cao và NPL ổn định là nhóm đáng đầu tư hơn trong giai đoạn sàng lọc
  • 2023-07

    • Q2/2023: tỷ lệ bao phủ nợ xấu toàn ngành ngân hàng (27 ngân hàng công bố) sụt giảm mạnh dù một số ngân hàng vẫn báo lợi nhuận tăng - chuyên gia cảnh báo rủi ro khi thông tư 02/03 hết hiệu lực
    • VCB và BIDV được đánh giá có tỷ lệ bao phủ nợ xấu tốt hơn nhóm ngân hàng TMCP vừa và nhỏ
  • 2023-06

    • Tỷ lệ bao phủ nợ xấu hệ thống ngân hàng Việt Nam giảm từ 150% xuống còn ~100% trong 2-3 quý đầu năm 2023
    • Nợ xấu toàn hệ thống tăng 50-70% (giá trị tuyệt đối) chỉ trong 2-3 quý gần nhất; tất cả nhóm ngân hàng đều tăng nợ xấu mạnh
    • Xu hướng: ngân hàng đẩy mạnh đầu tư TPCP thay vì cho vay khi nợ xấu tăng - tiền bơm ra từ OMO quay lại TPCP, không chảy vào nền kinh tế
    • Top 15 ngân hàng theo AFC Capital: tỷ lệ bao phủ ~162% nhưng đang có xu hướng giảm; tỷ lệ nợ xấu tăng từ 1,36% lên 1,62%; nhóm NHTM nhà nước có tỷ lệ bao phủ tốt hơn nhóm TMCP tư nhân
    • Ngân hàng bao phủ cao + nợ xấu thấp = có dư địa giảm lãi suất cho vay; ngân hàng bao phủ thấp phải giữ lãi suất cao
  • 2023-02

    • Thực trạng đầu 2023: chỉ 34% ngân hàng có tỷ lệ bao phủ nợ xấu trên 100%; 48% từ 50-100%; 17% dưới 50% (chưa đủ dự phòng)
    • Hai nguyên nhân nợ xấu tăng: (1) hết hạn thông tư hoãn chuyển nhóm nợ (kết thúc 30/6/2022); (2) áp lực từ trái phiếu doanh nghiệp BĐS
    • Nhiều ngân hàng niêm yết chủ động điều tiết dự phòng để bảo vệ lợi nhuận công bố ra thị trường - ảnh hưởng tính minh bạch trụ cột 2+3 Basel II
    • Tỷ lệ bao phủ nợ xấu tăng gấp đôi sau 10 năm là điểm sáng, nhưng phân hóa lớn giữa các ngân hàng
  • 2023-01

    • Vietcombank dẫn đầu với tỷ lệ bao phủ nợ xấu >400% - biên an toàn cao nhất ngành
    • Ngân hàng có bao phủ >100%: dư địa tăng lợi nhuận, ít rủi ro trích bổ sung dự phòng
    • Ngân hàng có bao phủ <100%: rủi ro cao, áp lực trích lập thêm ảnh hưởng lợi nhuận 2023
    • Tỷ lệ bao phủ trung bình toàn ngành cuối 2022 khoảng 140%
    • Năm 2022 khó khăn (lãi suất tăng, trái phiếu doanh nghiệp) nhưng ngân hàng quản trị rủi ro tốt (bao phủ cao) vẫn báo lãi tốt - VCB và BIDV là ví dụ điển hình
    • Tỷ lệ bao phủ nợ xấu là chỉ báo dự báo khả năng duy trì lợi nhuận trong năm 2023
  • 2022-12

    • Snapshot Q3/2022 tỷ lệ bao phủ nợ xấu: nhóm NHTM nhà nước 279.3%, NHTM lớn 143.1%, NHTM khác chỉ 76.5%
    • Chi tiết NHTM lớn: MB 207.7%, TCB 165%, ACB 137.8%, VP 62%
    • VCB tốt nhất ngành: NPL ~1.2% + LLR rất cao - bộ đệm an toàn vững chắc
    • VP có LLR thấp (62%) do chiến lược kinh doanh tài chính tiêu dùng rủi ro cao - không phải quản trị kém
    • LLR >100% nghĩa là ngân hàng không bị ảnh hưởng ngay cả khi toàn bộ nợ xấu vỡ nợ
  • 2021-02

    • ACB 2020: tỷ lệ bao phủ nợ xấu cao nhất ngành (~160%), nợ xấu ~0,5% - chất lượng tài sản tốt nhất
    • Ngân hàng bao phủ cao = phòng thủ tốt; sẵn sàng hấp thụ nợ xấu tiềm ẩn COVID chuyển sang 2021
  • Xu hướng nhiều quý (8-9 quý) quan trọng hơn số tuyệt đối: CTG tăng từ 135% (Q4/2024) lên 176% (Q3/2025) - dư địa tốt; MBB bị kéo xuống do phải chuyển nhóm nợ theo CIC (khách hàng năng lượng tái tạo bị CIC hạ nhóm, MBB bắt buộc phải theo); SHB siêu thấp vì khẩu vị rủi ro cao; VCB giữ mức cao nhất ngành nhưng xu hướng giảm nhẹ từ đầu năm.

  • Cơ chế CIC: ngân hàng không được phân loại nợ cao hơn mức CIC đã phân loại cho cùng khách hàng - tạo rủi ro lan truyền hệ thống khi một khách hàng lớn bị hạ nhóm trên CIC.