Key takeaway
Chất lượng và tính thanh khoản của tài sản đảm bảo quyết định khả năng thu hồi nợ xấu thực tế - khi bất động sản chiếm khoảng 60% tổng tài sản đảm bảo toàn hệ thống và thị trường BĐS đóng băng, ngân hàng không thể xử lý tài sản đảm bảo dù có quyền pháp lý, đồng thời giá BĐS giảm trực tiếp làm tăng mức trích lập dự phòng - tạo hiệu ứng kép ép ngân hàng.
WHAT
Tài sản đảm bảo (collateral) là tài sản người vay thế chấp hoặc cầm cố cho ngân hàng để bảo đảm nghĩa vụ trả nợ. Tại Việt Nam, phân loại gồm: (1) tài sản vật chất - quyền sử dụng đất, nhà ở, dự án bất động sản; (2) giấy tờ có giá - trái phiếu niêm yết, cổ phiếu niêm yết, tiền gửi có kỳ hạn. Tỷ lệ khấu trừ khi tính dự phòng cụ thể theo Thông tư 11/2021: tiết kiệm 100%, trái phiếu chính phủ 95%, chứng khoán niêm yết tổ chức tín dụng 70%, chứng khoán doanh nghiệp 65%, bất động sản 50%. Điều quan trọng cần hiểu rõ: doanh nghiệp chỉ có thể dùng trái phiếu doanh nghiệp mà mình đầu tư (nắm giữ) làm tài sản đảm bảo, không thể dùng trái phiếu do chính mình phát hành vì đó là khoản nợ chứ không phải tài sản. Hơn 95% TPDN Việt Nam phát hành riêng lẻ nên thường không đáp ứng tiêu chuẩn làm tài sản đảm bảo theo quy định ngân hàng do thiếu giá niêm yết và tính thanh khoản thị trường.
WHY/HOW
Nguyên tắc cơ bản: thế chấp là giao tài sản sở hữu, không phải giao khoản nợ. Tài sản đảm bảo chỉ là rào cản cuối - dòng tiền và khả năng thanh toán của khách hàng quan trọng hơn. Cơ chế xử lý: khi khách hàng không trả được nợ, ngân hàng có quyền thu giữ và bán tài sản đảm bảo để thu hồi vốn. Thách thức chính gồm ba lớp: (1) thủ tục pháp lý phức tạp - tòa án, thi hành án, tranh chấp sở hữu; (2) thị trường BĐS đóng băng làm tài sản đảm bảo mất tính thanh khoản, đặc biệt tài sản là dự án BĐS chưa hoàn thành pháp lý vừa là nút thắt BĐS vừa là nút thắt nợ xấu; (3) rủi ro tập trung - ngân hàng nào có tỷ trọng tài sản đảm bảo BĐS cao (có ngân hàng lên đến 90%) sẽ nhạy cảm nhất với chu kỳ BĐS. Khi giá BĐS giảm đồng thời với nợ xấu tăng, hai yếu tố cùng chiều đẩy trích lập dự phòng tăng vọt vì cả tử số (dư nợ khó thu hồi) lẫn mẫu số (giá trị tài sản đảm bảo) đều bất lợi trong công thức tính. Nghị quyết 42 và Luật TCTD sửa đổi trao thêm quyền thu giữ tài sản đảm bảo nhưng vẫn còn hạn chế thực tế khi thị trường đóng băng.
Related
- Nợ xấu ngân hàng
- Xử lý nợ xấu (Nghị quyết 42)
- Thị trường mua bán nợ
- Trích lập dự phòng
- Tín dụng bất động sản
Notes
-
2023-07
- Thị trường BDS đóng băng 2022-2023 làm TSĐB mất thanh khoản - ngân hàng khó bán dù có quyền pháp lý theo NQ42
- Luật TCTD sửa đổi có quy định về thu giữ TSĐB, hoàn trả tài sản, kê biên tài sản và chuyển nhượng TSĐB
- Tài sản là dự án BDS (chưa hoàn thành pháp lý) đặc biệt khó xử lý - vừa là nút thắt BDS vừa là nút thắt nợ xấu
-
2022-12
- Hiệp hội BĐS TP.HCM đề xuất cho phép dùng TPDN làm TSĐB cho khoản vay mới tối đa 70% giá trị trái phiếu
- Thực tế hầu hết doanh nghiệp BĐS không có TPDN đầu tư trong bảng cân đối - chỉ có TPDN phát hành (nợ)
-
95% TPDN Việt Nam phát hành riêng lẻ - không đủ chuẩn làm tài sản đảm bảo theo quy định ngân hàng
- Tỷ lệ khấu trừ TSĐB theo Thông tư 11/2021: tiết kiệm 100%, TPCP 95%, CK niêm yết TCTD 70%, CK DN 65%, BĐS 50%
- Thực tiễn: dòng tiền và khả năng thanh toán của khách hàng quan trọng hơn TSĐB - TSĐB chỉ là rào cản cuối
- BDS chiếm trung bình ~60% tổng TSĐB toàn hệ thống ngân hàng VN (Q3/2022)
- Một số ngân hàng có tỷ trọng rất cao lên đến ~90% (ACB được đề cập)
- Nguy cơ 2023: thị trường BDS đóng băng + lãi suất tăng - TSĐB mất giá + nợ xấu tăng đồng thời
- Tính dự phòng cụ thể theo công thức: dư nợ - giá trị TSĐB (chiết khấu theo quy định)
Links
- LIỆU NỢ XẤU CÓ BÙNG PHÁT? GỠ NÚT THẮT NỢ XẤU VỚI DỰ THẢO LUẬT TỔ CHỨC TÍN DỤNG SỬA ĐỔI
- TRÁI PHIẾU DOANH NGHIỆP LÀ TÀI SẢN ĐẢM BẢO cho khoản vay mới có khả thi?
- NỢ XẤU NGÂN HÀNG P1 Giải thích rõ cách tính và dự phòng rủi ro khi tăng trưởng tín dụng.
- NGÂN HÀNG NÀO BAO PHỦ NỢ XẤU TỐT NHẤT? Nợ xấu ngân hàng Phần 2