Key takeaway

Hành vi mua/bán ròng của khối ngoại phản ánh kỳ vọng dòng vốn quốc tế và là tín hiệu đáng theo dõi, nhưng cần phân biệt nguyên nhân nội tại (nền tảng vĩ mô cải thiện) với nguyên nhân bên ngoài (môi trường toàn cầu bớt xấu) để đánh giá tính bền vững.

WHAT

Khối ngoại là nhóm nhà đầu tư nước ngoài (quỹ ETF, quỹ chủ động, quỹ tham gia chỉ số cận biên hoặc mới nổi) giao dịch trên thị trường chứng khoán trong nước. Dòng vốn khối ngoại (foreign portfolio investment - FPI) là luồng tiền của nhà đầu tư nước ngoài vào hoặc ra khỏi thị trường; khác với FDI ở chỗ FPI có tính thanh khoản cao và dễ đảo chiều. Mua ròng là mua nhiều hơn bán, bán ròng là bán nhiều hơn mua trong một giai đoạn.

WHY/HOW

Dòng tiền khối ngoại chịu ảnh hưởng bởi hai nhóm yếu tố: yếu tố thu hút (lợi suất kỳ vọng, xếp hạng thị trường frontier/emerging, quy mô index, cải cách thể chế) và yếu tố đẩy (chênh lệch lãi suất, điều kiện tài chính toàn cầu, tỷ giá). Họ thường đi đón đầu, mua trước các cổ phiếu đại diện khi kỳ vọng sự kiện tích cực (như nâng hạng). Khi khối ngoại bán ròng kéo dài, dòng tiền nội đóng vai trò bệ đỡ hấp thụ cung. (1) Phân biệt hai nguyên nhân mua ròng: do nội tại cải thiện (tái cơ cấu kinh tế, cải cách thể chế) thì bền vững hơn; do ngoại tại (Fed hạ lãi suất, rủi ro địa chính trị hạ nhiệt) thì dễ đảo chiều - lý thuyết vốn chảy vào thị trường mới nổi khi Fed hạ lãi suất phức tạp hơn thực tế vì thị trường Mỹ (đặc biệt bigtech) vẫn hấp dẫn khi kinh tế ổn. (2) Quỹ ETF và index fund chỉ phân bổ vào thị trường khi đủ tiêu chí (MSCI, FTSE Russell); room khối ngoại là điểm nghẽn cấu trúc - khi room cạn, quỹ ngoại không có hàng mua dù muốn vào; FOL ngành ngân hàng là thách thức khó nhất để đáp ứng tiêu chí MSCI. (3) Tín hiệu thực sự từ khối ngoại: mua ròng trong giai đoạn thị trường xấu phản ánh cam kết dài hạn; bán ròng khi thị trường đang tăng là tín hiệu định giá đã cao cần thận trọng.

Notes

  • 2026-03

    • Đầu 2026 khối ngoại vẫn bán ròng nhưng mức độ giảm nhiều so với 2025; tới tháng 3 bắt đầu có giao dịch mua.
    • Xu hướng bán ròng đã diễn ra từ 2023-2024-2025, một phần do các quỹ tham gia chỉ số cận biên bán ra trước khi chuyển lên mới nổi.
    • Khối ngoại mua ròng mạnh một số cổ phiếu: Hòa Phát (thép), SSI (chứng khoán), Vinamilk (tiêu dùng bán lẻ), nhóm VN30.
  • 2024-11

    • Khối ngoại mua ròng 6 phiên liên tiếp cuối tháng 11/2024 nhưng cả tháng 11 vẫn bán ròng.
    • Cả năm 2024 xu hướng chủ đạo là bán ròng (~3,3 tỷ USD từ đầu năm đến tháng 11).
    • Techcombank dự kiến có đợt bán cổ phiếu quỹ ~7% qua thỏa thuận, đóng góp vào phần bán ròng sắp tới.
    • Chuyên gia nhận định khối ngoại không còn tác động lớn như giai đoạn 2023 trở về trước.
    • Từ 22/11/2024, khối ngoại bắt đầu mua ròng liên tiếp trên TTCK Việt Nam sau giai đoạn thị trường ảm đạm
    • Chuyên gia FV Capital nhận định đây chủ yếu do Việt Nam cải thiện nội tại (tái cơ cấu kinh tế, tinh gọn bộ máy) chứ không phải do thế giới bớt xấu
  • 2024-10

    • Đỉnh bán ròng tháng 5-6/2024: hơn 15.000-16.000 tỷ/tháng trên HoSE
    • Bán ròng giảm dần: T7/2024 còn 8.200 tỷ, T8 còn 3.200 tỷ, T9 gần cân bằng (10 phiên mua ròng/9 phiên bán ròng)
    • Nguyên nhân: tỷ giá USD/VND từ mức ~25.500 đầu năm hạ về ~24.400-500 sau quyết định cắt lãi suất của Fed tháng 9/2024
    • Nhóm mua nhiều nhất T9: Techcombank, FPT, TPBank, VinMilk, BĐS khu công nghiệp
  • 2024-09

    • Thông tư 68 (18/09/2024): sửa đổi 4 thông tư liên quan Luật chứng khoán, giải quyết vấn đề pre-funding và công bố thông tin tiếng Anh - tiền đề cho nâng hạng FTSE.
    • Đánh giá: dòng vốn FPI vào Việt Nam cần thêm thời gian, phụ thuộc nâng hạng thị trường.
    • Nhà đầu tư nước ngoài bán ròng liên tục tại TTCK Việt Nam trong 2-3 năm trước đó.
  • 2024-08

    • Khối ngoại bán ròng 15-16 tháng liên tiếp đến T8/2024; đỉnh bán T5-T6/2024 ~16.700 tỷ/tháng, T7 giảm còn 8.200 tỷ.
    • Đầu T8/2024: 4 phiên mua ròng nhẹ trong 10 phiên gần nhất; ngày 13/8 mua 300 tỷ, 14/8 mua ~600 tỷ (trong đó Kinh Đô ~500 tỷ qua thỏa thuận).
    • Kỳ vọng đảo chiều thực sự sang cuối T8 - đầu T9/2024 khi Fed hạ lãi suất.
    • Cần phân biệt mua/bán trên sàn (thực sự giải ngân) và mua/bán thỏa thuận (giao dịch giữa hai tổ chức, hiệu lực ngắn).
  • 2024-04

    • Q1/2024: khối ngoại bán ròng ~14.000 tỷ đồng; tháng 4 tiếp tục bán ~725 tỷ/phiên
    • Paradox: thị trường đang kỳ vọng nâng hạng (catalyst thu hút vốn ngoại) nhưng nhà đầu tư nước ngoài lại chốt lời sớm - mâu thuẫn chưa giải thích được ngoài lý do tỷ giá
    • Các thị trường nhận vốn ngoại mạnh Q1/2024: Mỹ, Ấn Độ, Hàn Quốc, Đài Loan, Trung Quốc - Việt Nam ngoại lệ tiêu cực
    • Khối ngoại ít khi mua trong đà tăng - thường đợi nhịp điều chỉnh đủ hấp dẫn
  • 2024-03

    • Khối ngoại bán ròng 13 phiên liên tiếp tính đến 29/3/2024
    • Áp lực chính: tỷ giá USD/VND tại NHTM vượt 25.000 - khối ngoại bị thiệt hại khi quy đổi sang USD
    • Phiên thứ Tư bán đặc biệt mạnh (~10.000 tỷ), phiên thứ Sáu -715 tỷ toàn thị trường
    • Mã bị bán mạnh nhất: Masan, STB, VND
    • Tuần cuối tháng 2/2024: khối ngoại quay lại mua ròng sau tuần bán ròng trước đó
    • Mua ròng tập trung vào HPG, DGC, SSI; mua ròng phiên cuối tuần thêm MWG, STB, SSI, VCI, GVR
    • Sự phục hồi mua ròng của khối ngoại trùng với tuần VN-Index tăng mạnh nhất từ đầu năm
  • 2024-02

    • Năm 2023: khối ngoại bán ròng hơn 24.000 tỷ trên HoSE; tháng 12/2023 bán gần 9.000 tỷ (bán kiểu tháo chạy).
    • Tháng 1/2024: chỉ bán ròng ~200 tỷ, gần cân bằng; trong 10 phiên gần nhất (cuối tháng 1) mua chiếm đa số.
    • DXY từ đỉnh 107 (tháng 10/2023) về 100 rồi hồi về 103 - tỷ giá ít áp lực hơn, hỗ trợ dòng vốn ngoại ổn định hơn.
    • Năm 2024: tỷ giá dự báo biến động ~1,5% (so với 4,5% năm 2023, ~8% năm 2022) - áp lực tỷ giá giảm hỗ trợ khối ngoại.
    • Khối ngoại mua mạnh thực sự thường gắn với cú sập đưa P/B về ~1,1-1,2x hoặc P/E về ~11x.
  • 2024-01

    • Khối ngoại TTCK Việt Nam: sau chốt NAV 29/12/2023, từ 2/1/2024 chủ đạo bán ròng; phiên 11/1 mua ròng ~110 tỷ, phiên 12/1 mua ròng ~12 tỷ - bớt tiêu cực
    • Bán ròng gần đây chỉ ~200-300 tỷ/phiên, không còn phiên 700-1.000 tỷ như đầu tháng 12/2023
    • Khối ngoại mua ròng tập trung vào nhóm ngân hàng: VCB (+400 tỷ/tuần), STB +177 tỷ, OCB +173 tỷ, VPB +170 tỷ, CTG +99 tỷ
    • Khối ngoại bán ròng chứng chỉ quỹ Diamond (-645 tỷ/tuần) và các chứng chỉ SSI; Diamond tăng 18,9% năm 2023 nên chốt lời bình thường
    • Chứng chỉ phix tăng >23% năm 2023 - khối ngoại chốt lời là hợp lý
  • 2023-12

    • Tháng 11/2023: khối ngoại bán ròng tháng thứ 8 liên tiếp; tuần cuối tháng còn ~700 tỷ (giảm so với 4.000 tỷ/tháng trước)
    • Năm 2022: T11 mua ròng 16.000 tỷ + T12 gần 13.000 tỷ = ~29.000 tỷ trong 2 tháng, tạo đáy trung hạn và sóng phục hồi mạnh
    • Mua chọn lọc: DGC, SHS, SSI (chứng khoán), Hoa Phát-Hoa Sen-Nam Kim (thép), Nam Long-Phát Đạt (BDS)
    • Bán mạnh: Vinhomes, Masan, Thế Giới Di Động, VPBank, Vinamilk, Combank
    • Khi DXY hạ nhiệt và Fed không tăng lãi suất thêm, tỷ giá ổn định tạo điều kiện cho khối ngoại quay lại mua ròng - nhưng cần thêm điều kiện đủ về chất lượng tài sản và PMI
  • 2023-11

    • Tuần 6-10/11/2023: khối ngoại bán ròng 3/4 ngày, mạnh nhất ngày 9/11 (>800 tỷ); cả tuần bán ròng ~1.100 tỷ
    • Mua ròng: HPG ~300 tỷ, STB ~280 tỷ, DGC ~200 tỷ; bán ròng: VHM, MWG là 2 tên quen thuộc
    • SHS được mua ròng mạnh - cổ phiếu chứng khoán duy nhất được tổ chức nước ngoài mua quyết liệt giai đoạn này
    • Nửa cuối tháng 11 kỳ vọng khối ngoại mua lại nếu tỷ giá bớt căng thẳng
  • 2023-10

    • Tỷ giá USD/VND tăng 3% trong gần 2 tháng (tháng 8-10/2023) dẫn đến khối ngoại rút vốn ngắn hạn; kết hợp lợi suất TPCP Mỹ tăng cao, dòng vốn dịch chuyển sang thị trường lợi tức tốt hơn và ít rủi ro hơn
    • Phiên 30/10: khối ngoại bán ròng nhẹ trên HOSE, tập trung bán VHM, TCB, MSN, VIC, CTG, VPB
    • Nếu loại giao dịch thỏa thuận VHM, khối ngoại chuyển sang mua ròng nhóm vốn hóa vừa: DGC, VND, VCI, FRT, VIX, KBC, VHC
    • Lợi suất TPCP Mỹ ~9%/năm (trái phiếu doanh nghiệp HY) cạnh tranh trực tiếp với thị trường mới nổi
  • 2023-09

    • Khối ngoại bán ròng trong giai đoạn thị trường tăng từ đáy 900 lên 1.200 (+300 điểm): tín hiệu trung tính - bình thường khi nhà đầu tư chốt lời sau tăng dài
    • Tín hiệu thực sự từ khối ngoại: (1) có mua ròng trong giai đoạn thị trường xấu cam kết dài hạn với VN; (2) bán ròng khi thị trường đang tăng định giá đã cao, cẩn trọng
    • Khối nội chiếm tỷ lệ lớn hơn nhiều - theo dõi khối ngoại như chỉ báo bổ sung, không phải tín hiệu chính
  • 2023-08

    • Tỷ giá USD/VND tăng mạnh (T8/2023): khối ngoại rút vốn do tài sản định giá bằng VND bị thiệt hại khi quy đổi; dòng vốn dịch chuyển sang quốc gia có lãi suất cao hơn và đồng tiền mạnh hơn
    • Xuất khẩu gạo VN giữ vị trí cao nhất thế giới (8/2023); xuất khẩu hưởng lợi khi VND mất giá, nhập khẩu và vay USD chịu thiệt
  • 2023-06

    • Tuần đầu tháng 6/2023: khối ngoại mua ròng phiên đầu tuần, sau đó bán ròng các phiên còn lại
    • Tổng tuần: khối ngoại bán ròng 400 tỷ đồng trên HOSE
    • Khối ngoại bán ròng liên tục 3 tháng tính đến 06/2023; phiên 08/06 bán 300 tỷ đồng
    • Tác động hạn chế trong ngắn hạn do hiệu ứng đám đông nhà đầu tư cá nhân trong nước đang chi phối
    • Cả quỹ ngoại hoạt động lâu năm tại Việt Nam cũng trong xu hướng chốt lời; nguyên nhân bán ròng gắn với USD tăng giá và Fed chưa dừng tăng lãi suất
  • 2021-12

    • Phiên 6/12/2021: VN-Index giảm 24,74 điểm về 1.413,58 điểm, HNX-Index giảm 3,42 điểm về 435,85 điểm; nhóm VN30 có 22 mã giảm, lực bán mạnh từ VCB (giảm tác động 2,41 điểm) và BID (giảm tác động 2,22 điểm), HDBank và Khang Điền là hai mã giảm mạnh nhất nhóm VN30
    • Dù thị trường giảm mạnh và sắc đỏ bao trùm, khối ngoại vẫn mua ròng khoảng 300 tỷ đồng trên sàn HOSE trong phiên này
  • 2021-11

    • Phiên VN-Index chạm 1.500 điểm (25/11/2021): khối ngoại bán ròng 1.500,77 tỷ đồng nhưng thị trường vẫn tăng mạnh hơn 13 điểm - cho thấy dòng tiền nội địa áp đảo
  • Room khối ngoại là điểm nghẽn: ngân hàng TMCP giới hạn 30% (MBB, TCB chưa đạt mức này), nhiều ngành 49%. Khi room cạn, quỹ ngoại không có hàng mua dù muốn vào VN; giải pháp song song: nới room ngành không nhạy cảm, đẩy cổ phần hóa DNNN, khuyến khích IPO tư nhân. FOL ngành ngân hàng là thách thức khó nhất để đáp ứng tiêu chí MSCI (nguồn: 17-03-2025).

  • Tháng 3/2025: khối ngoại cạnh tranh phân bổ vốn với thị trường Mỹ (hút vốn toàn cầu), Nhật Bản và châu Âu. Rủi ro: ngay cả sau nâng hạng FTSE (tháng 10/2025), một lượng vốn vẫn có thể tiếp tục rút sang Mỹ. Tín nhiệm quốc gia VN ở mức speculative (chưa investment grade) hạn chế thêm một số quỹ có quy định đầu tư chặt (nguồn: 10-03-2025).