Key takeaway

Thanh khoản ngân hàng phản ánh khả năng đáp ứng nghĩa vụ rút tiền và thanh toán liên ngân hàng đúng hạn. Khi chênh lệch tín dụng - huy động lũy kế vượt ngưỡng hệ thống, thanh khoản căng thẳng không còn là yếu tố mùa vụ - lãi suất qua đêm liên ngân hàng là nhiệt kế nhạy cảm nhất phản ánh tình trạng này.

WHAT

Thanh khoản ngân hàng là khả năng các ngân hàng đáp ứng nhu cầu rút tiền của khách hàng và thanh toán liên ngân hàng đúng hạn. Hệ thống thanh khoản gồm hai thị trường: thị trường 1 (ngân hàng thương mại - dân cư và doanh nghiệp, kỳ hạn dài hơn) và thị trường 2 (liên ngân hàng - kỳ hạn siêu ngắn, chủ yếu qua đêm, nơi NHNN can thiệp qua nghiệp vụ thị trường mở OMO). Lãi suất overnight trên thị trường liên ngân hàng là chỉ báo nhạy cảm nhất: khi vượt hai con số thường báo hiệu giai đoạn vĩ mô bất ổn và hệ thống đang thiếu vốn hệ thống. Cần phân biệt bơm thanh khoản qua OMO (tạm thời, hoàn trả) với bơm tiền/in tiền (tăng cung tiền vĩnh viễn).

WHY/HOW

Rủi ro thanh khoản là hệ quả của chức năng chuyển đổi kỳ hạn (maturity transformation): huy động ngắn hạn (tiền gửi) nhưng cho vay dài hạn - khi lệch pha kỳ hạn quá lớn ngân hàng không đủ nguồn chi trả. Khi tín dụng tăng nhanh hơn huy động (spread âm tích lũy), ngân hàng phải: (1) tăng lãi suất huy động để thu hút tiền gửi mới; (2) phát hành trái phiếu/chứng chỉ tiền gửi; (3) vay thị trường liên ngân hàng. Vòng này kéo lãi suất cho vay tăng theo, ảnh hưởng chi phí vốn doanh nghiệp và thị trường chứng khoán. Khi hệ thống cùng khó thanh khoản, thị trường 2 chạy cùng chiều - mọi người đều muốn bán tài sản, buộc phải trả giá rất cao; đây là đặc thù systemic risk của ngân hàng.

Nguyên nhân căng thẳng thanh khoản có thể đến từ nhiều phía cộng hưởng: (1) chênh lệch tín dụng - huy động lũy kế âm; (2) NHNN bán dự trữ ngoại hối can thiệp tỷ giá - rút tiền đồng trực tiếp; (3) lãi suất chính sách tăng làm giảm giá trái phiếu ngân hàng đang giữ; (4) mất niềm tin trái phiếu doanh nghiệp - dòng tiền rút khỏi thị trường về rồi rút tiếp khỏi ngân hàng; (5) shadow banking (công ty chứng khoán, quỹ) huy động cạnh tranh; (6) vòng quay tiền giảm do quy định minh bạch dòng tiền. Cuối năm dương lịch và âm lịch là giai đoạn sức ép thanh khoản đặc biệt cao do nhu cầu tiền mặt tăng mạnh.

NGHN can thiệp bằng nhiều công cụ: bơm OMO (tạm thời), hút tín phiếu (để tăng lãi suất VND kiểm soát tỷ giá - không phải thắt chặt tiền tệ), điều chỉnh LDR (tính cả tiền kho bạc vào mẫu số tiền gửi giúp hạ tỷ lệ), siết room tín dụng. Lãi suất tín phiếu và OMO tạo thành hành lang biên độ lãi suất liên ngân hàng. Khi chênh lệch lãi suất VND - USD quá lớn, tạo động cơ carry trade: ngân hàng vay VND lãi thấp mua giữ USD hưởng lợi - áp lực tỷ giá tăng; NHNN hút bớt VND qua tín phiếu để thu hẹp chênh lệch là công cụ can thiệp đầu tiên, nhẹ hơn bán USD dự trữ. Phần lớn ngân hàng phá sản trên thế giới đều chịu rủi ro thanh khoản làm ngòi nổ.

Notes

  • 2026-06

    • Tăng trưởng tín dụng 5T2026 ~5%, gấp đôi tăng trưởng huy động ~2% - căng thẳng thanh khoản kéo dài
    • Lãi suất liên ngân hàng VND đỉnh 11%/năm (tuần đầu tháng 6), sau đó hạ về ~6%; lãi suất tiền gửi 6-12 tháng phổ biến 8-9,1%
    • NHNN tiếp tục bơm thanh khoản qua OMO; lãi suất tiền gửi kỳ hạn dưới 6 tháng bị khống chế tối đa 4,75%
    • Chứng chỉ tiền gửi (không được rút trước hạn, phải bán lại cho CTCK) có lãi suất cao hơn tiết kiệm thông thường
    • Thông tư 08/2026 (tháng 3/2026): cho phép tính 20% tiền gửi kho bạc có kỳ hạn vào mẫu số LDR; dự thảo mới linh hoạt hóa tỷ lệ tiền gửi kho bạc (~400 nghìn tỷ dư địa)
    • Phiên giao dịch TTCK giảm từ 30-35 nghìn tỷ xuống 10-15 nghìn tỷ do thanh khoản ngân hàng căng - liên thông trực tiếp NH-TTCK
    • Tín dụng BĐS tăng nhanh trong bối cảnh huy động chậm: áp lực kép lên thanh khoản hệ thống
  • 2026-02

    • Tháng 2/2026: lãi suất overnight đỉnh 17%, trung bình khoảng 11%
    • Khối lượng giao dịch thị trường liên ngân hàng khoảng 16 triệu tỷ/tháng - mức kỷ lục
    • NHNN bơm OMO kỷ lục ~450.000 tỷ đồng trong giai đoạn này
    • Chênh lệch tín dụng - huy động lũy kế ~18%: vấn đề hệ thống, không chỉ mùa vụ
    • Lãi suất 2 con số trên thị trường liên ngân hàng từng xảy ra giai đoạn 2010-2011
  • 2024-06

    • Từ tháng 3/2024, NHNN hút tín phiếu để kiểm soát tỷ giá USD/VND làm thanh khoản liên ngân hàng sụt giảm
    • Lãi suất liên ngân hàng qua đêm tăng từ dưới 2% (10/2023 - 3/2024) lên hơn 4% vào 6/2024
    • Đây là nguyên nhân trực tiếp khiến các ngân hàng đẩy mạnh huy động dân cư và tăng lãi suất tiết kiệm
  • 2024-04

    • Lãi suất liên ngân hàng bị neo trong hành lang 3,73% (sàn tín phiếu) - 4,25% (trần OMO)
    • Mục tiêu giữ cao để tránh carry trade VND-USD làm tăng áp lực tỷ giá trong bối cảnh DXY mạnh và Fed chưa hạ lãi suất
    • Tín phiếu hút ròng trước đó đã tạo áp lực lãi suất liên ngân hàng tăng trước khi NHNN bán USD
  • 2024-03

    • Q1/2024: Thanh khoản ngân hàng vẫn dư thừa (đèn xanh) nhưng bớt dồi dào hơn giai đoạn cuối 2023
    • Cú giật lãi suất O/N sau Tết 2024 lên ~4% mang tính ngắn hạn, NHNN bơm lượng nhỏ qua OMO là ổn định ngay
    • Lãi suất huy động kỳ hạn 3-6 tháng nhóm ngân hàng nhà nước bắt đầu đi ngang (ngừng giảm), nhóm cổ phần nhỏ vẫn giảm
    • Lãi suất tín phiếu trúng thầu 1,4%/năm thấp hơn lãi suất liên ngân hàng 1 tháng (2,13%) - xác nhận hệ thống đang rất dư thừa thanh khoản tháng 3/2024
    • Dù NHNN hút 15.000 tỷ tín phiếu, lãi suất liên ngân hàng chưa tăng đáng kể - cần tiếp tục nhiều đợt hút nữa để đạt mục tiêu ổn định tỷ giá
    • Thanh khoản dư thừa nguyên nhân cấu trúc: tín dụng tăng trưởng âm đầu 2024 trong khi tiền gửi tiếp tục chảy vào ngân hàng
  • 2023-11

    • Trung Quốc: lãi suất liên ngân hàng qua đêm tạm thời chạm 50%/năm - mức kỷ lục; các định chế tài chính nhỏ không vay được tiền mặt ngắn hạn
    • Ngân hàng thương mại Trung Quốc phát hành NCD hơn 1.000 tỷ NDT/tuần - mức cao kỷ lục để bù thanh khoản
    • Nguyên nhân: chính phủ Trung Quốc phát hành TPCP quy mô lớn kích thích kinh tế; ngân hàng phải mua TPCP đồng thời duy trì cho vay - gây căng thẳng thanh khoản cục bộ
    • Tại Việt Nam tháng 11/2023: lãi suất liên ngân hàng qua đêm về 0,5-0,7% (từ mức cao 3% giai đoạn NHNN hút mạnh để bảo vệ tỷ giá)
    • NHNN dừng hút tiền từ ngày 9/11/2023; tỷ giá USD-VND tăng ~3-4% năm 2023 (không vượt 25.000 VND/USD) - trong biên độ kiểm soát
    • Cơ chế: NHNN hút tiền VND để tăng lãi suất VND, thu hẹp chênh lệch với USD, giảm động lực mua ngoại tệ; khi dừng hút, thanh khoản cải thiện, chi phí vốn giảm
  • 2023-10

    • Tháng 10/2023: dự trữ ngân hàng thương mại tại NHNN (CITAD) vượt 400.000 tỷ đồng vs dự trữ bắt buộc ~280.000 tỷ - dư thừa 120.000 tỷ; biểu hiện “bệnh thừa tiền” cục bộ trong hệ thống liên ngân hàng.
    • Tiền gửi dân cư tăng +8,93% nhưng tín dụng chỉ tăng 6,92% 9 tháng 2023 - tiền không chảy ra nền kinh tế được.
    • Ngân hàng thương mại dư thanh khoản chuyển sang mua TPCP và giữ ngoại tệ (lợi dụng chênh lệch lãi suất VND-USD) thay vì cho vay ra nền kinh tế.
    • NHNN hút bill (tín phiếu) T9/2023 để tăng lãi suất thị trường 2, giảm áp lực đầu cơ tỷ giá - đây là công cụ can thiệp đầu tiên, nhẹ hơn bán USD dự trữ
    • Khi tín dụng > huy động trên thị trường 1, ngân hàng thương mại phụ thuộc vào nguồn vốn thị trường 2 (liên ngân hàng) để tài trợ cho vay trung-dài hạn
  • 2023-09

    • Lãi suất liên ngân hàng duy trì mức thấp nhất kể từ đầu năm 2021, phản ánh thanh khoản hệ thống dư thừa
    • NHNN dùng kênh tín phiếu để hấp thụ bớt thanh khoản dư và kiểm soát áp lực tỷ giá
    • Hệ thống ngân hàng Việt Nam đang thừa thanh khoản (9/2023): lãi suất tiền gửi và cho vay ở mức thấp, chi phí vốn giảm hỗ trợ khả năng mở rộng tín dụng
    • NHNN sử dụng tín phiếu để hút bớt thanh khoản dư thừa nhằm kiểm soát tỷ giá, không phải thắt chặt tiền tệ
    • Lãi suất liên ngân hàng VND qua đêm chỉ khoảng 0,7-2% - rất thấp, trong khi lãi suất USD ~5%
    • Tiền thừa cấu trúc: tăng trưởng tín dụng 9 tháng 2023 chỉ dưới 6% trong khi huy động tăng bình thường - tiền không chảy ra nền kinh tế được
    • Chênh lệch lãi suất VND-USD cực lớn tạo động cơ carry trade: ngân hàng vay VND 1-2%, mua giữ USD hưởng lợi 5% áp lực tỷ giá
  • 2023-08

    • 3 tình huống liên thông TT1-TT2: TT1 thiếu thanh khoản, TT2 thừa thanh khoản, TT2 thừa tiền và TT2 thiếu tiền
    • Mỗi tình huống tạo chênh lệch lãi suất, phát sinh arbitrage, tác động Capital Out; NHNN phản ứng bằng tỷ lệ LCR và cơ chế bơm/hút tiền
  • 2023-07

    • Đầu tháng 7/2023: lãi suất liên ngân hàng ở mức rất thấp do tín dụng ra nền kinh tế ách tắc
    • Chênh lệch lãi suất thị trường 1 và thị trường 2 quá lớn - nguy cơ vốn chạy vòng trong hệ thống (NHNN ban hành Thông tư 06 kiểm soát)
    • NHNN nâng tỷ giá trung tâm chủ động sau khi số liệu GDP Q2 và H1/2023 công bố thấp
  • 2023-06

    • Từ tháng 3/2023: SBV dừng phát hành tín phiếu, không hút tiền về - thanh khoản hệ thống dồi dào
    • Lãi suất qua đêm liên ngân hàng giảm xuống ~1,5%/năm vào tháng 6/2023
    • Lãi suất TPCP dài hạn (1-5 năm) xuống dưới 3%, thậm chí ~2,5% - xác nhận môi trường lãi suất thấp
    • Tín dụng tăng chậm so với 5 tháng đầu 2022 là một nguyên nhân khiến thanh khoản dồi dào
    • NHNN bơm 80-110 nghìn tỷ qua OMO từ giữa tháng 5/2023; dự kiến bơm thêm 30 nghìn tỷ
    • Tổng tín dụng vẫn vượt tổng huy động trong hệ thống - thanh khoản cơ cấu dài hạn vẫn nhạy cảm dù ngắn hạn dồi dào
    • Nợ xấu tăng 50-70% trong 2-3 quý khiến ngân hàng chuyển sang phòng thủ: tích trữ tiền hoặc đầu tư TPCP thay vì đẩy tín dụng
  • 2023-05

    • Đầu năm 2023 lãi suất liên ngân hàng liên tục giảm sâu do thanh khoản dư thừa sau khi tín dụng tăng chậm
    • NHNN hút ~110.700 tỷ đồng qua tín phiếu 91 ngày từ 15/2; khi lô này đáo hạn từ tháng 5 sẽ bơm dần trở lại
    • Việc tín phiếu đáo hạn kỳ vọng làm dồi dào hơn thanh khoản, kéo giảm thêm các loại lãi suất trên thị trường
  • 2023-03

    • Thị trường liên ngân hàng ví như bể nước: khi dư thanh khoản lãi suất ON giảm, khi thiếu lãi suất ON tăng cao - NHNN bơm/hút để giữ trong band mục tiêu
    • Áp lực tỷ giá USD/VND là lý do chính NHNN hút tiền: NHTM dư tiền VND nhưng bị giới hạn tín dụng sẽ mua USD gây mất kiểm soát tỷ giá
    • Cuối 2022: NHTM mất tin tưởng lẫn nhau (vụ SCB) dẫn đến lãi suất ON tăng cao bất thường dù cũng có NH thừa tiền
    • Lãi suất qua đêm liên ngân hàng từ >6% (cuối tháng 2/2023) giảm xuống ~2,6% (tháng 3/2023) - giảm ~4%
    • NHNN không phát hành tín phiếu hút tiền, cho phép thanh khoản dồi dào - tín hiệu nới lỏng chủ động
    • Điều chỉnh LDR (tính cả tiền kho bạc) góp phần cải thiện thanh khoản hệ thống
  • 2023-02

    • NHNN hút ròng 142.000 tỷ qua tín phiếu trong 1 tuần - xác nhận thanh khoản dư thừa đã quay lại
    • Lãi suất liên ngân hàng VND qua đêm giảm xuống dưới lãi suất USD; NHNN giữ lãi suất hút tín phiếu ~4% để VND không giảm quá sâu
    • 3 yếu tố hỗ trợ: NHNN mua 2,78 tỷ USD (~64.000 tỷ VND bơm ra), tín dụng đầu năm chậm, Thông tư 26 tính tiền gửi kho bạc vào LDR (~150.000 tỷ thêm vào vòng quay)
  • 2022-12

    • Lãi suất huy động tăng dựng đứng tất cả kỳ hạn tháng 12/2022 - cao nhất kể từ trước COVID
    • Lãi suất liên ngân hàng overnight về dưới 6% (mức lãi suất điều hành OMO NHNN) - tín hiệu bớt căng
    • NHNN bán ~25 tỷ USD dự trữ ngoại hối - tương đương rút 500-600 nghìn tỷ VND khỏi hệ thống
    • DXY giảm từ 114 về 104 và tỷ giá USD/VND về 24.280 (dưới mức NHNN bán) - áp lực bên ngoài giảm
    • LDR nhiều NH vượt 100% - nới room tín dụng cũng không cho vay thêm được vì thiếu nguồn
    • Techcombank: nguồn vốn dịch sang vay TCTD khác tăng nhanh, giảm phụ thuộc tiền gửi dân cư
    • Sau tin NHNN nới room tín dụng 1,5-2% (tháng 12/2022), thanh khoản hệ thống vẫn ổn định - không xáo trộn
    • 3 yếu tố hỗ trợ thanh khoản cuối 2022: (1) lãi suất huy động cao hơn trước COVID khiến tiền gửi cư dân tăng (5,6 triệu tỷ cuối T9/2022); (2) NHNN nới room cho ngân hàng thanh khoản tốt hơn; (3) Kho bạc Nhà nước đều đặn bơm VND qua mua ngoại tệ
    • Room tháng 12 dự kiến ~400.000 tỷ đồng; tăng trưởng tín dụng cả năm 2022 ước ~15,5-16%
  • 2022-11

    • LDR vượt 100% lần đầu - chênh lệch tăng trưởng huy động vs tín dụng âm từ tháng 7/2022
    • Huy động tiền gửi tăng 4,8% vs tín dụng 11,38% - chênh lệch 6,6 điểm phần trăm
    • Lãi suất huy động tăng lên 9-10% để kéo tiền gửi trong bối cảnh căng thanh khoản
    • Niềm tin người gửi tiền bị ảnh hưởng bởi các sự kiện thị trường (cuối 2022)
  • 2022-09

    • Lãi suất liên ngân hàng qua đêm tăng 148 điểm cơ bản lên bình quân 5,9%, phiên cao nhất 6,88% (7/9/2022); NHNN bơm ròng 58,2 nghìn tỷ gồm 42,1 nghìn tỷ OMO và 16,1 nghìn tỷ tái cấp vốn; lãi suất OMO 4,5%/7 ngày giữ nguyên
  • 2022-08

    • Lần đầu từ 2013: đường tăng trưởng tín dụng cắt vượt đường tăng trưởng huy động - tổng tiền gửi < tổng dư nợ cho vay
    • Ngân hàng thương mại bắt đầu phát hành trái phiếu, quảng cáo bán chứng chỉ tiền gửi trên VOV Giao Thông để bổ sung vốn
    • Dự báo mặt bằng lãi suất tiếp tục tăng 1-2 phẩy phần trăm trong vài tháng tới - không phải do lạm phát mà do cân đối tín dụng-huy động
    • Nếu NHNN không kiểm soát tốt: nguy cơ cuộc đua lãi suất huy động như giai đoạn 2011-2013
  • 2022-04

    • Lãi suất liên ngân hàng overnight tăng vọt đầu Q2/2022 - NHNN phải bơm tiền qua thị trường mở để ổn định
    • Thanh khoản ngân hàng thắt chặt khiến ngân hàng không sẵn sàng mua TPCP với lãi suất thấp - tỷ lệ trúng thầu TPCP giảm
    • Kho bạc Nhà nước Q1/2022 chỉ phát hành 10% kế hoạch năm vì mức lãi suất trúng thầu và lãi suất thị trường quá chênh lệch

Tháng 1-2/2026: lãi suất overnight trung bình tháng 2 khoảng 11%, đỉnh 17%. Khối lượng giao dịch liên ngân hàng 16 triệu tỷ/tháng - kỷ lục. Phân biệt bơm thanh khoản (tạm thời qua OMO) với bơm tiền/in tiền (tăng cung tiền vĩnh viễn).