Key takeaway
Tăng trưởng tín dụng là nhiên liệu của thị trường tài sản và động lực chính kích hoạt chu kỳ kinh tế, nhưng khi tín dụng tăng vượt xa huy động kéo dài sẽ gây căng thẳng thanh khoản hệ thống và đẩy mặt bằng lãi suất lên; Thông tư 22 với chỉ số LDR là công cụ kiểm soát thay thế cho room tín dụng hành chính trong lộ trình tiến tới chuẩn Basel.
WHAT
Tăng trưởng tín dụng là tỷ lệ phần trăm tăng của tổng dư nợ cho vay trong nền kinh tế hoặc một lĩnh vực trong một kỳ. Tại Việt Nam thường gắn trực tiếp với mục tiêu tăng trưởng GDP theo quy tắc kinh nghiệm khoảng 2 lần (GDP 8% thì room tín dụng khoảng 16%); NHNN phân bổ room tín dụng cho từng ngân hàng theo bộ tiêu chí CAMELS và Basel II hàng năm. Tín dụng có thể tách riêng theo lĩnh vực: kinh doanh bất động sản (thường tăng nóng hơn tổng thể) và vay mua nhà để ở (cầu thực). Thông tư 22 với chỉ số LDR (Loan-to-Deposit Ratio) là quy định then chốt kiểm soát thanh khoản hệ thống: LDR = tổng cho vay / tổng tiền gửi huy động ổn định, giới hạn tối đa 85%. Cách cấu thành mẫu số D (gồm tiền gửi dân cư, tiền gửi tổ chức kinh tế và tiền gửi Kho bạc Nhà nước theo từng lộ trình) quyết định trực tiếp dư địa cho vay của từng ngân hàng.
WHY/HOW
Cơ chế số nhân tiền: khi ngân hàng cho vay ra, tiền mới được tạo ra, kích thích tiêu dùng và đầu tư và tăng GDP. Nhưng nếu tín dụng chảy vào bong bóng tài sản thay vì sản xuất, sẽ gây lạm phát và nợ xấu - bài học 2007-2011 khi tín dụng tăng 35-53%/năm nhưng GDP chỉ 6-7%, phần dư chạy vào chứng khoán và bất động sản. Về phía thanh khoản hệ thống: khi tín dụng tăng vượt huy động vốn kéo dài, ngân hàng thiếu nguồn cho vay buộc phải chạy đua tăng lãi suất huy động, đẩy mặt bằng lãi suất lên cao và tạo căng thẳng thanh khoản. LDR là trụ cột điều tiết vì nó kiểm soát rủi ro thanh khoản: khi loại một cấu phần ra khỏi mẫu số (ví dụ tiền gửi Kho bạc Nhà nước theo lộ trình Thông tư 26 và điều chỉnh Thông tư 08), ngân hàng buộc phải giảm cho vay hoặc tăng huy động vốn ổn định. Cùng với CAR (vốn tối thiểu 8%) và kiểm soát nợ xấu, LDR là một trong ba trụ cột thay thế room tín dụng hành chính trong giai đoạn chuyển tiếp tiến tới chuẩn Basel III đầy đủ. Cơ cấu tín dụng (vào kinh doanh BĐS so với người mua ở thực) tiết lộ dòng tiền đang phục vụ đầu cơ hay nhu cầu thực, giúp đánh giá rủi ro thị trường và áp lực cung tương lai. Khi chênh lệch tuyệt đối giữa tổng dư nợ tín dụng và tổng huy động kéo dài (không chỉ chênh lệch tốc độ tăng trưởng), ngân hàng buộc phải tăng lãi suất huy động hoặc phát hành giấy tờ có giá lãi suất cao để bù đắp, đẩy mặt bằng lãi suất thị trường lên ngay cả khi lãi suất điều hành không đổi.
Related
- Bùng nổ nguồn cung
- Tín dụng bất động sản
- Room tín dụng
- Tăng trưởng tín dụng
- Thế lưỡng nan chính sách tiền tệ
- Basel III
- Resilience (Khả năng chống chịu)
- Phân tách lãi suất điều hành và lãi suất thị trường
- GDP Việt Nam
Notes
-
2026-07
- Tăng trưởng tín dụng theo mục tiêu năm 2026 là 15% (so với 19% năm 2025); số liệu công bố đầu tháng 7/2026 cho thấy tín dụng đã tăng 7,73%
- Theo kịch bản Nghị quyết 168 (GDP H2/2026 phải đạt 11,9%/quý), tín dụng tiếp tục là kênh cấp vốn chủ lực cho tăng trưởng nửa cuối năm do quy tắc kinh nghiệm gắn tăng trưởng tín dụng với tăng trưởng GDP
- Tổng dư nợ tín dụng toàn nền kinh tế đã gần 20 triệu tỷ đồng trong khi tổng huy động chỉ khoảng 17 triệu tỷ đồng - hệ thống ngân hàng thiếu vốn tuyệt đối ngay cả trước khi tính đến mục tiêu tăng trưởng tín dụng mới, là nguyên nhân trực tiếp khiến lãi suất thị trường duy trì ở mức cao dù lãi suất điều hành thấp
- Cơ cấu tín dụng theo ngành: cho vay bất động sản tiếp tục chiếm tỷ trọng lớn và tăng nhanh nhất so với xây dựng và chế biến chế tạo
- Cơ cấu nguồn vốn huy động ngân hàng dịch chuyển: tỷ trọng tiền gửi (thường ~60-70%) đang giảm khi huy động chi phí thấp khó tiếp cận hơn, buộc ngân hàng tăng phát hành giấy tờ có giá để bù đắp
- Nửa cuối tháng 6/2026: 18 lô trái phiếu ngân hàng phát hành thành công trên HNX, tổng gần 19-20 nghìn tỷ đồng, lợi suất phổ biến trên 8% (có kỳ hạn tới 9,63%) - phản ánh chi phí vốn huy động tăng
- NHNN có xu hướng nới lỏng các chỉ tiêu an toàn thanh khoản để hỗ trợ ngân hàng cung ứng đủ vốn cho mục tiêu tăng trưởng 2 con số, đánh đổi với rủi ro chất lượng tài sản/nợ xấu trong tương lai
-
2026-06
- Thông tư 08 (sửa Thông tư 22, 6/2026): cho phép cộng 20% phần tiền gửi của Kho bạc Nhà nước tại các ngân hàng Big4 vào phần huy động (mẫu số D) khi tính LDR, giúp các ngân hàng này có thêm dư địa cho vay, hỗ trợ thanh khoản hệ thống đang căng. Tác động đánh giá là không lớn vì chỉ áp dụng cho nhóm Big4 và chỉ tính 20% phần tiền gửi Kho bạc - là một trong chuỗi hành động hỗ trợ thanh khoản (đi cùng công văn 4551), chưa cải thiện được nhiều.
-
2026-05
- Lộ trình gốc: từ 01/01/2026, tiền gửi Kho bạc Nhà nước tại NHTM không còn được tính vào mẫu số (phần huy động), tạo sức ép lớn, chủ yếu lên nhóm Big4.
- Dự thảo sửa đổi nâng đỡ: cho tính lại tiền gửi Kho bạc Nhà nước ở mức ~20% với tiền gửi có kỳ hạn; vốn chủ sở hữu được trừ khỏi tử số (coi như nguồn vốn dài hạn), giảm tỷ lệ cho vay.
- Tác động trung hạn: huy động liên ngân hàng (~20% tổng huy động, ~3,5-4 triệu tỷ) bị loại khỏi mẫu số, buộc ngân hàng tăng bộ đệm vốn ổn định.
- Quy mô tiền gửi Kho bạc bị loại khỏi mẫu số từ 01/01/2026 ảnh hưởng nhóm Big4 tổng khoảng hơn 500.000 tỷ (Agribank thấp nhất ~80 nghìn tỷ, ba ngân hàng còn lại mỗi bên ~120-130 nghìn tỷ); 4 tháng đầu năm vấn đề lớn nhất của Big4 không phải lãi suất cao mà là có đủ điều kiện cho vay ra hay không, trong khi huy động khó hơn vì ngân hàng nhỏ cạnh tranh lãi suất cao (video 04/5/2026).
-
2026-04
- Năm 2025 Việt Nam: tăng trưởng tín dụng bình quân toàn ngành 19%; lĩnh vực bất động sản 22%; kinh doanh bất động sản 28%; vay mua nhà để ở chỉ 14%.
- Diễn giả nhấn mạnh tiền dồn vào chủ đầu tư trong 2025 là nguyên nhân dẫn tới lượng cung lớn dự kiến năm 2026.
- Mục tiêu tăng trưởng tín dụng 2026 định hướng 15%; NHNN cho biết có thể xem xét giảm chỉ tiêu nếu thế giới biến động và rủi ro nợ xấu hoặc lạm phát tăng cao. Tín dụng bất động sản bị hạn chế ngay từ đầu năm 2026.
- Tăng trưởng tín dụng cao là điểm tích cực cho triển vọng ngân hàng quý II/2026 nhưng từng nhóm ngân hàng phản ứng khác nhau tùy cơ cấu cho vay.
- Video cj4MBh2J76k (10/4/2026): 2 tháng đầu 2026 tín dụng tăng 2,15% trong khi huy động vốn TCTD chỉ tăng 0,44%; chênh lệch này gây căng thanh khoản.
- Cùng kỳ, cung tiền (tổng phương tiện thanh toán M2) tăng 1,04% so cuối 2025 - cho thấy tốc độ bơm tiền ra lưu thông chậm hơn tốc độ tín dụng.
- NHNN bơm ~268.000 tỷ qua OMO để hỗ trợ thanh khoản ngắn hạn nhưng chưa đủ so với nhu cầu tín dụng theo quán tính.
- Cách hiểu trần 85%: nhận 100 đồng tiền gửi chỉ được cho vay ra tối đa 85 đồng; mẫu số D gồm ba phần - tiền gửi dân cư, tiền gửi tổ chức kinh tế và tiền gửi Kho bạc Nhà nước (video 17/4/2026).
- Tham chiếu khu vực (không quy định ngưỡng cứng như Việt Nam): Thái Lan ~93%, Malaysia ~100%, Indonesia ~77%. Chuẩn Basel III đã bỏ LDR, thay bằng các tỉ lệ thanh khoản chi tiết hơn như LCR (video 17/4/2026).
-
2026-03
- MBB tăng trưởng tín dụng +40% YoY 2025: cho vay gộp 1,084,019 tỷ (Q4/2024: 776,658 tỷ) - gấp ~3 lần mặt bằng ngành; tổng tài sản tăng 43.1% YoY lên 1,615,764 tỷ - tốc độ mở rộng thuộc top đầu hệ thống
- LDR MBB Q4/2025: 117.7% (Q4/2024: 108.8%) - vượt xa trần 85% của Thông tư 22; bù đắp bằng vay liên ngân hàng (248,018 tỷ, +125.1% YoY) và phát hành GTCG (187,236 tỷ, +45.2%) - chi phí vốn liên ngân hàng và GTCG cao hơn tiền gửi, tạo áp lực NIM
- Consensus 2026F: BSC 30-35%, VCBS 35%, ABS 35%, MBB kế hoạch 35%; rủi ro tập trung ở BĐS (tín dụng BĐS MBB tăng 73.4% năm 2025) - nếu thị trường đảo chiều sẽ tạo áp lực nợ xấu với độ trễ 12-18 tháng
- Việt Nam quý 1/2026: tín dụng tăng ~3-3,5%; mục tiêu cả năm ~15%, được đánh giá phù hợp trong bối cảnh bất định.
- 5 năm gần đây tín dụng tăng cao hơn huy động vốn khá nhiều, tạo áp lực thanh khoản; tiền gửi tăng chậm vì các kênh đầu tư khác hấp dẫn hơn.
- Quy mô tín dụng của nền kinh tế đã rất lớn.
-
2026-01
- Tác động tín dụng thấp lên BĐS: khi chỉ tiêu 2026 thấp hơn 2025, chủ đầu tư phía đông Hà Nội chiết khấu >30% (so mức thông thường 20%) để thu hồi vốn - người nắm BĐS thứ cấp khu vực này khó ra hàng có lãi.
- Ngân hàng bị khống chế LDR 85% (Thông tư 22); từ 01/01/2026 tiền gửi kho bạc nhà nước không được tính vào LDR - BID, VCB chịu áp lực tăng huy động thực. Ngân hàng chủ động tăng vốn chủ sở hữu (CTG) sẽ có nhiều room tín dụng hơn và lợi nhuận bền vững hơn.
- CTG tăng vốn chủ sở hữu giải quyết LDR → lợi nhuận 2025 dự kiến 32.000 tỷ (+29%); VPBank phục hồi mạnh cho vay tiêu dùng, lợi nhuận dự kiến tăng 45%.
- NHNN công bố chỉ tiêu tín dụng 2026 là 15% vào 1/1/2026 (thấp hơn mức thực đạt 19% năm 2025) - tín hiệu kiểm soát rủi ro tín dụng sau giai đoạn tăng mạnh.
-
2025-12
- T9/2025: tín dụng tăng 13,86% vs huy động tăng 9,84% YTD - chênh lệch ~4 điểm %.
- LDR cốt lõi (thị trường 1: dân cư + doanh nghiệp) tiệm cận 100%; LDR toàn phần (kể cả TT2, kho bạc) vẫn dưới 85%.
- Giới hạn 30% vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn (Thông tư 08/2022, từ 01/10/2023): nhiều ngân hàng đã đạt trần, muốn cho vay BĐS dài hạn phải phát hành CD hoặc trái phiếu kỳ hạn dài.
- Tháng 12/2025: tổng tín dụng vượt 18 triệu tỷ đồng; tốc độ cho vay nhanh hơn huy động từ Q1/2024 làm tỷ lệ tín dụng/huy động (LDR tính rộng) lên khoảng 110%.
- Quy tắc kinh nghiệm (chưa chính thống): GDP tăng X% → tín dụng cần tăng khoảng 2X% (ví dụ GDP 8% → tín dụng ~16%).
- Tháng 11/2025: tỷ lệ huy động TPCP chỉ đạt 61,38% kế hoạch vì ngân hàng thiếu tiền mua trái phiếu.
- Tháng 12/2025 là tháng chạy tín dụng mạnh nhất năm; mục tiêu tín dụng toàn ngành 2025 có thể đạt 18-20% (cao hơn mục tiêu đầu năm 16%).
- Thực tế cuối năm 2025: tín dụng tăng nhanh hơn huy động, tỷ lệ tín dụng/huy động lên ~110%; các ngân hàng tư nhân nhỏ phải tăng lãi suất huy động kỳ hạn dài (>6 tháng, không bị trần điều hành) để hút tiền gửi.
-
2025-11
- Q3/2025: tăng trưởng tín dụng ~20% nhưng tăng trưởng huy động thấp hơn; tiền gửi khách hàng thực tế sụt giảm tại một số ngân hàng - áp lực huy động gia tăng mạnh cuối 2025.
- Lãi suất liên ngân hàng qua đêm T10/2025 duy trì ~6% (trung bình) - cao bất thường; ngân hàng nhỏ không có tài sản đảm bảo (trái phiếu) buộc vay với lãi cao; ngân hàng lớn có trái phiếu “kiếm ăn” bằng chênh lệch OMO ~4% vs liên ngân hàng ~6-7%.
- Hệ thống ngân hàng “khát vốn” cuối 2025: nhiều ngân hàng thương mại xác nhận tình trạng này.
-
2025-10
- Tăng trưởng tín dụng 9 tháng 2025: ~13,37%; dự báo cả năm 18-19% nhờ Q4 luôn là quý giải ngân mạnh nhất.
- Ngân hàng hưởng lợi room cao: HDB (+15,8% YoY), MBB (+8-11%), VPB (ấn tượng nhờ room + tín dụng tiêu dùng phục hồi).
- Vietcombank: quy mô lớn + thận trọng cho vay, kỳ vọng Q3 không cao; ACB, TCB tăng trưởng đều và bền bỉ.
-
2025-09
- Tăng trưởng tín dụng 8 tháng 2025: 11,82% - cao nhất 5 năm trở lại đây.
- Phó Thống đốc NHNN lên tiếng về rủi ro lạm phát từ tín dụng tăng nóng; Thủ tướng chuyển ưu tiên sang kiểm soát lạm phát và tỷ giá thay vì hy sinh lạm phát đổi lấy tăng trưởng.
- NHNN phản ứng bằng bán ngoại tệ kỳ hạn; các ngân hàng thương mại chủ động tăng nhẹ lãi suất và rút ngắn ưu đãi.
-
2025-07
- Từ 2011: áp room → tín dụng giảm còn 14,2% và ổn định 14-18%/năm trong hơn một thập kỷ.
- Quy tắc kinh nghiệm (chưa chính thống): tăng trưởng tín dụng ≈ 2× tăng trưởng GDP mục tiêu.
- Thông tư 36/2014: LDR ≤ 85% - cùng với CAR (≥8%) tạo thành hai trụ cột chính của Basel 2 Việt Nam hóa.
- Trong lộ trình bỏ room tín dụng: ngân hàng vẫn bị kiểm soát qua LDR + CAR + nợ xấu - không phải buông hoàn toàn.
-
2025-06
- H1/2025: toàn hệ thống đạt 9,9%; tín dụng BĐS riêng tăng 25% YoY. Mục tiêu cả năm 2025 là 16%.
- H1/2025 theo ngân hàng: VPB dẫn đầu (hợp nhất FE Credit); CTG và TCB cao; ACB thấp (~7,56%) theo khẩu vị an toàn.
- Thông tư 02 hết hiệu lực 31/12/2024 khiến nợ xấu Q1-Q2/2025 tăng đột biến chuyển nhóm kỹ thuật, H2/2025 không tăng đột biến thêm; tuy nhiên nợ nhóm 2 tăng là rủi ro tiếp theo.
-
2025-03
- Năm 2024 VN: tăng trưởng tín dụng 15,08% vs huy động 9% - chênh 6%. Mục tiêu tín dụng 2025 là 16% nên áp lực huy động còn lớn hơn, là nguyên nhân chính xu hướng lãi suất huy động tăng từ đầu 2025.
- Đầu Q1/2025: tổng tín dụng ~15 triệu tỷ > huy động ~14,4 triệu tỷ (thiếu vốn tuyệt đối). Tốc độ huy động chỉ ~11%; chênh lệch ép lãi suất liên ngân hàng lên 4,2%; NHNN bơm OMO ròng ~60.000 tỷ.
- Kế hoạch tín dụng 2025 theo ngân hàng: VCB >16%, BIDV 10%, MBB 26%, HDBank >27%; NIM 2025 khó cải thiện nên lợi nhuận ngân hàng phụ thuộc chủ yếu vào tăng trưởng tín dụng.
- Ngân hàng tham gia tái cơ cấu ngân hàng 0 đồng/yếu kém được NHNN ưu tiên room tín dụng cao hơn - lợi thế cạnh tranh rõ ràng.
-
2024-12
- Đến đầu tháng 12/2024 tăng trưởng tín dụng đạt 12%, mục tiêu cả năm là 15%.
- NHNN mở thêm room tín dụng cho một số ngân hàng đạt chuẩn.
- Năm 2023: 17 ngày cuối năm có 300.000 tỷ đồng được đẩy ra.
- Lãi suất huy động tăng 0,3-0,8%/năm so với đầu năm 2024.
- Đến tháng 12/2024: tăng trưởng tín dụng ~12,5% YTD vs. tăng trưởng huy động ~7,9% YTD - chênh lệch ~4,6 điểm phần trăm.
- Ước tính tăng trưởng tín dụng 2025: 15-20% (nếu GDP target 7-8%) - áp lực huy động tiếp tục.
-
2024-11
- Q3/2024: nhiều ngân hàng có tăng trưởng cho vay 10-13% trong khi tăng trưởng huy động chỉ 5-6%, khoảng cách ngày càng rộng qua các quý.
- Tín hiệu lãi suất Việt Nam có thể không giảm thêm và có thể tăng nhẹ trong các tháng cuối 2024.
-
2024-07
- Tăng trưởng tín dụng tính đến cuối T6/2024 đạt 6% (tổng dư nợ ~14,4 triệu tỷ đồng)
- Từ T1-T5 chỉ tăng 2,41%; riêng T6 tăng ~3,6% - bằng hơn 150% của 5 tháng trước cộng lại
- Hai tuần cuối T6 tăng ~300 nghìn tỷ; cả T6 tăng ~487 nghìn tỷ
- Nguyên nhân: NHNN giao chỉ tiêu 6% từ đầu năm, ngân hàng không đạt bị hạn chế room năm sau - tạo áp lực giải ngân cấp tập
- Tính đến 24/6/2024, tăng trưởng tín dụng đạt 4,45% - gần đạt mục tiêu chính phủ 5-6% đến hết quý II
- Trong hơn 3 tuần đầu tháng 6, tín dụng tăng 2,04% - xấp xỉ bằng cả 5 tháng đầu năm cộng lại
- Quý II/2024 đẩy ra nền kinh tế 422 nghìn tỷ đồng
- Nếu duy trì đà tăng, mục tiêu tín dụng cả năm 14-15% có thể đạt được
-
2024-06
- Quý 1/2024 tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống chỉ đạt 0,26% - cực thấp so với chỉ tiêu 15% cả năm
- NHNN ban hành văn bản 4462 yêu cầu phấn đấu đạt 5-6% hết quý 2/2024; yêu cầu giảm lãi suất cho vay 1-2%/năm, tập trung vào ngành ưu tiên, tăng trưởng xanh, nhà ở xã hội
- Đến 14/6/2024, tín dụng toàn hệ thống chỉ tăng 3,79% so với đầu năm; mục tiêu Thủ tướng đạt 5-6% đến hết Q2 và 15-16% cả năm 2024
- Tín dụng/GDP toàn hệ thống đạt khoảng 133% - mức cao, tiềm ẩn rủi ro hệ thống
- Một số ngân hàng quản trị tốt (TCB, LPB) tăng tín dụng >10% trong 5 tháng đầu năm, cho thấy phân hóa mạnh
- NHNN hội nghị toàn ngành 19/6/2024 về giải pháp đẩy mạnh tăng trưởng tín dụng do nhiều ngân hàng ghi nhận tăng trưởng tín dụng âm trong nửa đầu năm
- 7 nhóm nhiệm vụ trọng tâm H2/2024: điều hành chủ động linh hoạt; ban hành văn bản hướng dẫn Luật TCTD 2024; tín dụng an toàn đúng mục tiêu; triển khai gói 120.000 tỷ nhà ở xã hội và 30.000 tỷ lâm thủy sản; hoàn thiện chương trình tín dụng; theo dõi Thông tư 06/2024 cơ cấu lại nợ; đẩy mạnh tín dụng cho chương trình mục tiêu quốc gia
-
2024-03
- Tín dụng tháng 1/2024 âm, tháng 2 giảm -0,72% so cuối 2023 (chậm hơn tháng 1)
- Cuối tháng 3/2024 tín dụng chuyển dương - tín hiệu phục hồi sau 2 tháng âm liên tiếp
- Huy động vốn các TCTD cũng giảm 0,76% - ngân hàng chủ động giảm tốc để tiết giảm chi phí lãi
- Dòng tiền tiết kiệm dịch chuyển sang kênh khác (chứng khoán, vàng) khi lãi suất huy động thấp
- Tháng 1 và tháng 2/2024 tăng trưởng tín dụng âm dù NHNN giao chỉ tiêu 15% cả năm
- Tín dụng âm mùa Tết thường do yếu tố mùa vụ, nhưng mức độ âm phản ánh cầu tín dụng thực yếu
- Khớp với đà điều chỉnh của VN-Index tháng 3/2024 sau giai đoạn tăng mạnh đầu năm
-
2024-02
- Năm 2023: tăng trưởng tín dụng yếu trong phần lớn năm, bùng nổ 17 ngày cuối năm
- Tín dụng tăng nhưng phần lớn đến từ đầu tư trái phiếu và cho vay BĐS - không phải sản xuất kinh doanh thuần túy
- NIM toàn hệ thống giảm từ ~3,51% xuống 3,44% cả năm 2023 - dự báo phục hồi từ Q1/2024
- Tín dụng tăng 13,71% cả năm 2023, trong đó tháng 12/2023 tăng mạnh nhất (~4,35% chỉ trong 1 tháng)
- Cuối tháng 1/2024 tín dụng giảm 0,6% so với đầu năm - ngân hàng liên doanh giảm 3,41%, ngân hàng TMNN giảm 0,88%, ngân hàng TMCP giảm 0,51%
- NHNN tổ chức hội nghị đẩy mạnh tín dụng ngày 20/2 nhằm hỗ trợ tăng trưởng kinh tế 2024
-
2024-01
- NHNN giao room 15% ngay đầu 2024 (khác với cách giao từng đợt như trước) - cho phép ngân hàng chủ động đẩy tín dụng sớm
- Rủi ro ẩn số: vụ Vạn Thịnh Phát ~1 triệu tỷ bị găm ở tài sản bất động sản
- ACB và STB được đánh giá có rủi ro thấp nhất trong nhóm ngân hàng; Techcombank và VPBank rủi ro cao hơn
- Hai lý do tín dụng thấp 2023: (1) xuất khẩu tăng trưởng âm kéo tài trợ thương mại giảm; (2) bất động sản đóng băng ~20% tổng giá trị kinh tế kéo ngành phụ trợ
- Năm 2023: tăng trưởng tín dụng 13,5% cả năm; riêng 10 ngày cuối tháng 12 tăng ~300.000 tỷ (~4%), tương đương hơn cả phần lớn cả năm dồn vào 10 ngày
- NHNN giao room 15% ngay đầu tháng 1/2024 - tín hiệu tiếp tục ưu tiên tăng trưởng kinh tế, ngân hàng nào giải ngân sớm sẽ dùng tối đa room
- Tăng trưởng tín dụng 2023 đạt hai chữ số nhưng thấp hơn mục tiêu 14%, giải ngân tăng tốc trong những tuần cuối tháng 12
- Lo ngại kép: tín dụng thấp không hỗ trợ đủ tăng trưởng, nhưng đẩy nhanh cuối năm có thể làm nợ xấu tăng thêm
-
2023-12
- Tính đến 13/12/2023, tín dụng tăng 9,87% so cuối năm; chỉ trong 13 ngày (1-13/12) tăng thêm ~85.800 tỷ
- Mục tiêu cả năm 2023 là 14%, thực tế không đạt
- BĐS chiếm ~21% tổng tín dụng, pháp lý khó khăn khiến cầu tín dụng BĐS yếu kéo lùi tổng tín dụng
- Kỳ vọng 2024 tín dụng phục hồi theo đà hồi phục kinh tế
-
2023-11
- Tăng trưởng tín dụng 2023 rất thấp do nhu cầu yếu và nợ xấu tăng; kỳ vọng 2024 cải thiện nhờ thanh khoản tốt hơn khi NHNN mua đô vào
- Cơ cấu tín dụng Việt Nam: ~20% vào BĐS - rủi ro tập trung; nợ xấu tăng nhanh là cảnh báo
- NHNN 2024 khả năng sử dụng OMO (nghiệp vụ thị trường mở) để điều tiết thanh khoản thay vì hạ lãi suất điều hành
- Chất lượng quan trọng hơn tốc độ: tín dụng vào sản xuất tạo toàn dụng lao động và xuất khẩu xanh; tín dụng vào đầu cơ BĐS dễ tạo bong bóng
- Tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống 9 tháng 2023 chỉ đạt 6,92% vs mục tiêu đầu năm 14%; mục tiêu điều chỉnh xuống 12-13%
- Chu kỳ rõ ràng: 2011-2013 thị trường BĐS đóng băng, 2014-2015 tín dụng tạo đỉnh; 2022 tín dụng BĐS đạt 24%, sau đó về 6% năm 2023
- Mục tiêu tín dụng 2024: ~15%; mục tiêu GDP 2024 Quốc hội: 6-6,5% - muốn đạt phải đẩy được tín dụng đúng và trúng
- T11-12 là cao điểm tín dụng theo mùa vụ; phát hành trái phiếu DN Q3/2023 hơn 80.000 tỷ đồng, tích cực hơn Q2 (<40.000 tỷ)
- Kỳ vọng tín dụng 6 tháng đầu 2024 không bứt phá do BĐS vẫn vướng pháp lý; vấn đề TPDN và nợ xấu BĐS chưa xử lý triệt để làm nghẽn cầu tín dụng mới
-
2023-10
- Sau 9 tháng đầu 2023 tín dụng chỉ tăng ~5,9% - khoảng một nửa tốc độ 2022; kỳ vọng cả năm 10-11% nếu Q4 bứt tốc nhờ lãi suất cho vay giảm và nợ xấu đạt đỉnh.
- Tín dụng tăng nhanh hơn huy động: ngân hàng đang dùng vốn thị trường 2 bù vào kỳ hạn trung-dài - hệ thống thiếu vốn ổn định, nhạy cảm với biến động lãi suất.
- Tín dụng thấp là chỉ báo sớm cho tăng trưởng kinh tế H1/2024 do độ trễ thẩm thấu vốn vào nền kinh tế.
- Tăng trưởng tín dụng 9 tháng 2023 chỉ 6,92% vs mục tiêu đầu năm 14% - mức thấp nhất nhiều năm
- Trước đây tăng trưởng tín dụng luôn vượt tăng trưởng huy động (17-18%/năm); năm 2023 bị đảo ngược
- Nguyên nhân tín dụng thấp: doanh nghiệp không muốn mở rộng (tiền gửi doanh nghiệp âm -0,74%), BĐS đóng băng (~20% tổng tín dụng bị nghẽn)
- Khi không tăng trưởng tín dụng được, tổng phương tiện thanh toán (M2) cũng giảm theo, kéo GDP sụt giảm
-
2023-09
- Tín dụng toàn nền kinh tế đến 15/9/2023 tăng 5,56%, tổng dư nợ ~12,6 triệu tỷ đồng.
- NHNN định hướng tăng trưởng tín dụng cả năm 2023 khoảng 14-15%; con số đến giữa tháng 9 cho thấy còn cách xa mục tiêu.
-
2023-08
- VN 2012-2023: tăng trưởng tín dụng dao động 10-18%/năm, đỉnh 18,2% năm 2016
- 2015-2016 room tín dụng tăng mạnh → dân vay mua nhà → kinh tế nóng → NHNN hãm phanh 2017, TTCK sập 2018
- 2021-2022 tương tự: room tín dụng tăng → BĐS bị thổi giá, kết hợp FED tăng lãi suất toàn cầu
- Mục tiêu tăng trưởng tín dụng 14% năm 2023 gặp khó: lãi suất cao, nợ xấu tăng, TPDN kém
- Giai đoạn 2009-2010 dưới thời Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, tín dụng tăng trưởng 30-35%/năm - mức bơm tiền ồ ạt
- Tháng 7/2023: tăng trưởng tín dụng MoM âm (tháng 7 thấp hơn tháng 6), YTD ~4-5% - cách xa mục tiêu 14-15% cả năm.
- NHNN nêu 4 nguyên nhân: (1) nhu cầu đầu tư sản xuất kinh doanh yếu; (2) điều kiện vay khó (tài sản đảm bảo, bắt buộc mua bảo hiểm); (3) tín dụng BĐS chiếm ~20% tổng tín dụng gặp khó khăn; (4) các TCTD thắt chặt chuẩn tín dụng do rủi ro cao.
- Tín dụng âm MoM → M2 co lại → GDP quý 3/2023 dự báo kém tích cực.
-
2023-07
- H1/2023: tăng trưởng tín dụng chỉ 3,58% (số liệu NHNN ngày 30/06/2023)
- Gói 120.000 tỷ đồng mới bắt đầu giải ngân đầu tháng 7/2023
- Tiền gửi kỳ hạn 6 tháng lãi suất cao đáo hạn tháng 11/2023; kỳ hạn 12 tháng còn kéo dài thêm 1 năm - chi phí vốn ngân hàng cao chưa giảm được
- NHNN điều chỉnh chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng 2023 lên khoảng 14% (ngày 10/7/2023), khẳng định đây không phải chỉ tiêu cứng, sẵn sàng mở rộng thêm nếu cần
- Hiệp hội ngân hàng kêu gọi hội viên giảm lãi suất 1,5-2% để chia sẻ khó khăn với doanh nghiệp
-
2023-06
- 2023: tín dụng gần như không tăng do nhu cầu hấp thụ vốn yếu, trong khi NHNN có xu hướng bơm ròng trên thị trường mở
- Thanh khoản hệ thống ngân hàng dồi dào, lãi suất thị trường 2 (liên ngân hàng) duy trì ở mức thấp; tiền thừa trong hệ thống chảy sang chứng khoán
- Đối lập 2022: tín dụng vượt M2 trong bối cảnh thắt chặt tiền tệ toàn cầu - khi tín dụng thấp hơn M2, ngân hàng thừa thanh khoản, lãi suất liên ngân hàng giảm
-
2023-05
- Tăng trưởng tín dụng đầu 2023 thấp so với mục tiêu dù NHNN đã giảm lãi suất 2 lần - nguyên nhân chủ yếu: doanh nghiệp không có đơn hàng, không muốn vay
- Thanh khoản hệ thống ngân hàng được cải thiện qua các công cụ OMO, nhưng tiền chưa ra được nền kinh tế thực
- Phân biệt hai nguyên nhân tín dụng thấp: lãi suất cao (giảm lãi suất có tác dụng) vs thiếu đơn hàng/triển vọng (phải kích cầu đầu ra trước)
-
2023-04
- Đến 20/4/2023, tín dụng toàn hệ thống tăng 2,57% so với cuối 2022, tổng dư nợ đạt 12,23 triệu tỷ đồng; mục tiêu cả năm 2023 là 14-15% (theo NHNN)
- Tốc độ 2,57% trong 4 tháng so với mục tiêu 14-15% cả năm cho thấy cầu tín dụng yếu, nhiều khả năng liên quan đến thị trường bất động sản trầm lắng và doanh nghiệp thận trọng đầu tư
- Tín dụng Q1/2023 tăng 2% so với cuối 2022, bằng ~50% cùng kỳ 2022; nguyên nhân chính là cầu yếu (thiếu đơn hàng), không phải thiếu vốn
- Thanh khoản ngân hàng dồi dào nhưng không cho vay được; lãi suất cho vay vẫn >10% dù điều hành đã giảm 2 lần
- Lãi suất liên ngân hàng tăng từ <1% lên >5% nhưng chỉ phản ánh thanh khoản ngắn hạn của vài ngân hàng, không phải xu hướng chung
-
2023-03
- Q1/2023: tăng trưởng tín dụng thấp do sản xuất công nghiệp sụt giảm mạnh 2 tháng đầu năm; nhiều nhà máy đóng cửa từ T10/2022 không có đơn hàng
- Nguyên nhân tín dụng thấp: bất động sản đóng băng (chiếm tỷ trọng lớn tổng tín dụng) + sản xuất suy yếu + lãi suất cho vay vẫn 10%+ khiến doanh nghiệp không muốn vay mở rộng
- Thanh khoản ngân hàng dồi dào nhưng không cho vay được do cầu yếu - phân biệt thiếu vốn vs thiếu nhu cầu vay
- Chu kỳ sản xuất trước đặt hàng 2 tháng: chỉ số PMI và sản xuất công nghiệp T1-2/2023 đã báo trước cầu tín dụng Q1/2023 yếu từ T9-10/2022
- Tín dụng đầu 2023 (tính đến tháng 2) chỉ tăng 0,77% - mức thấp phản ánh cầu tín dụng yếu sau giai đoạn lãi suất đỉnh và kinh tế khó khăn
- Ngân hàng chủ động chọn lọc cho vay: ưu tiên sản xuất cơ bản - xuất khẩu, hạn chế BĐS pháp lý chưa rõ và TPDN dư nợ lớn
- NHNN khẳng định không hạ chuẩn tín dụng ngay cả trong gói hỗ trợ BĐS 120.000 tỷ
-
2023-02
- Thông tư 26 ban hành 31/12/2022, hiệu lực cùng ngày; sửa lộ trình tính tiền gửi Kho bạc vào mẫu số D của LDR
- Lộ trình: 2023 còn 50% tính vào D; 2024 còn 40%; 2025 còn 20%; từ 2026 = 0% (quay lại Thông tư 22 gốc)
- Ba ngân hàng hưởng lợi: BIDV 139.000 tỷ, VietinBank 103.000 tỷ, VCB 48.000 tỷ - tổng ~300.000 tỷ tiền gửi Kho bạc
- Năm 2023: 50% x 300.000 tỷ = 150.000 tỷ tính vào D; dư địa cho vay thêm = 85% x 150.000 tỷ ~ 127.500 tỷ
- Các NHTM quốc doanh có thể dùng dư địa này để giảm lãi suất huy động thay vì tăng L, hỗ trợ giảm lãi suất cho vay
-
2023-01
- Mục tiêu tăng trưởng tín dụng 2022: 14.5%; nhóm TMCP quốc doanh được ưu tiên room hơn nhóm TMCP tư nhân nhỏ
- Q1/2023: kỳ vọng room tín dụng được cấp sớm, tập trung vào ngân hàng quản trị tốt - là một yếu tố hỗ trợ cổ phiếu ngân hàng ngắn hạn
- Tỷ lệ LDR (Loan-to-Deposit Ratio) quy định tối đa 85% (Thông tư NHNN); thực tế một số ngân hàng vượt 100% khi tính cả thị trường liên ngân hàng
- NHNN phân bổ room tín dụng cho từng ngân hàng theo bộ tiêu chí CAMELS và Basel II (Thông tư 41) hàng năm
-
2022-12
- LDR toàn hệ thống theo TT22: ~74% đến hết Q2/2022, còn dưới trần 85%
- LDR thuần (thị trường 1) nhiều ngân hàng vượt 100%, thậm chí 103-115%; trung bình toàn hệ thống vượt 100%
- Tăng trưởng tín dụng 11,5% (đến 30/10/2022) vs tăng trưởng huy động 4,6% - khoảng cách lớn tạo ra căng thẳng thanh khoản hệ thống
- UPAS LC ngoại bảng (~10% tỷ trọng một số NH) chưa tính vào tử số L - LDR thực tế còn cao hơn con số báo cáo
- Tiền gửi Kho bạc tại Big4 ước hơn 200 nghìn tỷ (đến Q2/2022); đây là biến số quan trọng trong mẫu số D
- Thị trường liên ngân hàng căng thẳng: các ngân hàng dùng liên ngân hàng và giấy tờ có giá bù đắp phần chênh lệch vay>gửi thị trường 1
-
2022-11
- Tăng trưởng tín dụng VN cuối tháng 10/2022: 11.5% so với cuối năm 2021 (17% so với cùng kỳ năm trước) - cao so với nhiều năm; NHNN đặt mục tiêu cả năm 14%
- Huy động vốn chỉ tăng 4.6% so với đầu năm - bằng 1/3 tốc độ tín dụng, tạo thách thức điều tiết hệ số sử dụng vốn
-
2022-03
- Hệ thống ngân hàng Việt Nam bơm ròng hơn 190.000 tỷ đồng tín dụng trong 2 tháng đầu 2022; dự báo cả năm 14-14,1% nếu kinh tế tiếp tục phục hồi hậu COVID-19
- Nhu cầu tín dụng tăng kéo lãi suất tiết kiệm dân cư tăng 0,1-0,8 điểm % tại một số NHTM ngoài quốc doanh
- NHNN dự kiến mở rộng chỉ tiêu tín dụng ~14%; gói hỗ trợ 350.000 tỷ đồng trong 2-3 năm tới góp phần đẩy tín dụng
-
2021-10
- Tín dụng nền kinh tế Việt Nam tăng 7,17% tính đến 20/9/2021, gấp 1,4 lần cùng kỳ 2020 (4,99%); NHNN giữ nguyên lãi suất điều hành và định hướng duy trì ổn định
-
2021-05
- Tăng trưởng tín dụng Việt Nam Q1/2021 chỉ ~0,76% (thấp hơn nhiều so với mức 25-26% giai đoạn 2010-2011)
- Giai đoạn 2009-2011: tín dụng tăng mạnh nhưng chủ yếu chảy vào BĐS và vàng - dẫn đến lạm phát 18,5% và nợ xấu tăng cao
-
2021-02
- TPBank 2020: tín dụng tăng 25% (từ 95.000 tỷ lên ~120.000 tỷ) - gấp đôi trung bình ngành 12%
- Techcombank 2020: tín dụng tăng ~20% (từ 230.000 tỷ lên 277.000 tỷ) - trên trung bình ngành, tập trung bất động sản (Vinhomes)
- Cả hai ngân hàng có dòng tiền hoạt động kinh doanh âm mạnh (TPBank âm 12.000 tỷ+) - tín hiệu chất lượng lợi nhuận cần xem xét kỹ
-
Lịch sử: 2007: +53,8%; 2008: +30%; 2009: +37,7% - giai đoạn bùng nổ trước khi có room tín dụng hành chính.
Links
- GDP 8,39%, CPI 4,38%, TĂNG TRƯỞNG TÍN DỤNG 7,73% ĐÂU LÀ NGUỒN VỐN TIẾP TỤC TĂNG TRƯỞNG H2-2026?
- MBB_report
- Tín dụng
- Tiền rẻ
- BCTC Techcombank vs TPBank Tân binh vs. Cựu binh Vn30, ngân hàng nào hiệu quả hơn?
- Liệu Fed có nâng lãi suất sớm hơn dự kiến? - Bản tin Tài chính & Kinh doanh (VWA)
- Nga ngừng giao dịch ngoại hối, Chứng khoán Mỹ bùng nổ, Giá thép xây dựng phá đỉnh 2021
- FED TĂNG LÃI SUẤT 0.75%, DOW JONES sụt hơn 500 điểm
- TRIỂN VỌNG NGÀNH NGÂN HÀNG 2023 Điểm nào cần chú ý?
- Nhu cầu tín dụng giảm, lãi suất huy động có bị ép giảm thêm - Đi theo dòng tiền 03-03-2023
- Xử lý các ngân hàng yếu kém, nhiệm vụ trọng tâm Ngân hàng nhà nước - Đi theo dòng tiền 10-03-2023
- TĂNG TRƯỞNG TÍN DỤNG CHỈ TĂNG 2,57% SO VỚI CUỐI NĂM 2022 NHỊP ĐẬPTHỊ TRƯỜNG 13
- Tín dụng chững lại Thách thức cho tăng trưởng kinh tế - Đi theo dòng tiền 17-04-2023
- LẠM PHÁT GIẢM ƯU TIÊN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ - Đi theo dòng tiền 08-05-2023
- Chứng khoán THANH KHOẢN TĂNG KỶ LỤC 6 THÁNG - Đi theo dòng tiền 09-06-2023
- Tín dụng và Tỷ giá 6 tháng đầu năm 2023 - Đi theo dòng tiền 05-07-2023
- LẠM PHÁT MỸ TIẾP TỤC GIẢM MẠNH, VỀ MỨC THẤP NHẤT TRONG 2 NĂM NHỊP ĐẬP THỊ TRƯỜNG 24
- TĂNG TRƯỞNG TÍN DỤNG ÂM VÀ 5 THÁCH THỨC VỚI CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ - Đi theo dòng tiền 23-08-2023
- FED QUYẾT ĐỊNH GIỮ NGUYÊN LÃI SUẤT Ở MỨC CAO NHẤT 22 NĂM NHỊP ĐẬP THỊ TRƯỜNG 34
- Bệnh thừa tiền Đi theo dòng tiền 11-10-2023
- NHỮNG VẤN ĐỀ VĨ MÔ, TIỀN TỆ cần chú ý trong Quý 4-2023 - KINH TẾ VĨ MÔ THÁNG 10 Bàn tròn đầu tư
- ĐẦU TƯ GÌ NĂM 2024? (Phần 2) LỰA CHỌN CỔ PHIẾU VÀ XÂY DỰNG DANH MỤC ĐẦU TƯ
- DỊCH CHUYỂN KINH TẾ VĨ MÔ VIỆT NAM & THẾ GIỚI Khi nào lãi suất giảm? Suy thoái có xảy ra?
- TÍN DỤNG TĂNG GẦN 86.000 TỶ ĐỒNG CHỈ TRONG 13 NGÀY NHỊP ĐẬP THỊ TRƯỜNG 46
- CUỐI THÁNG 1-2024, TÍN DỤNG GIẢM 0,6% NHỊP ĐẬP THỊ TRƯỜNG 53
- KINH TẾ NĂM RỒNG & TRIỂN VỌNG PHỤC HỒI CỦA DOANH NGHIỆP BCTC 2023 TOÀN CẢNH
- TÍN DỤNG VÀ BẤT ĐỘNG SẢN
- TIÊU ĐIỂM NGÂN HÀNG, TÀI CHÍNH Đi theo dòng tiền 20-11-2023
- Mục tiêu năm 2024 Tăng trưởng GDP 6 - 6,5%, 3 động lực về đầu tư Đi theo dòng tiền
- THỊ TRƯỜNG CỦA NGƯỜI MUA, HÀNH ĐỘNG THẾ NÀO - REFI FORUM 2026 - KEYNOTE 3
- LÃI SUẤT CHO VAY BẤT ĐỘNG SẢN 2026 REFI FORUM 2026 - KEYNOTE 1
- TĂNG TRƯỞNG TÍN DỤNG 15% BẤT ĐỘNG SẢN LIỆU CÓ GẶP KHÓ VỀ VỐN
- 10 SỰ KIỆN NỔI BẬT KINH TẾ - TÀI CHÍNH 2025 - Góc nhìn TCKD
- THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH 2026 - HỘI NHẬP TÀI CHÍNH QUỐC TẾ - NÂNG TẦM VỊ THẾ - ĐẦU TƯ GÌ 2026 - Tọa đàm 2
- LÃI SUẤT ĐIỀU HÀNH CÓ TĂNG KHÔNG - THANH KHOẢN CĂNG THẲNG
- THỊ TRƯỜNG BĐS KHI LÃI SUẤT TĂNG
- 3 ĐIỂM NHẤN VĨ MÔ T10 VÀ BCTC Q3 NGÂN HÀNG
- LẠM PHÁT LIỆU CÓ ĐÁNG QUAN NGẠI - Góc nhìn TCKD
- BỎ ROOM TÍN DỤNG CẦN NHIỀU HƠN MỘT SỰ THẬN TRỌNG Góc nhìn TCKD
- TĂNG TRƯỞNG GDP 8% CẦN LÀM GÌ VÀ LƯU Ý GÌ
- XEM XÉT NỚI LỎNG LDR HỖ TRỢ THANH KHOẢN, TRIỂN VỌNG NGÀNH NGÂN HÀNG QUÝ II-2026 ĐTDT 17-4-2026
- NGÂN HÀNG CAM KẾT ĐỒNG THUẬN GIẢM LÃI SUẤT, KINH TẾ ƯU TIÊN ỔN ĐỊNH VĨ MÔ ĐTDT 10-4-2026
- TĂNG MỨC ĐẶT CỌC ĐẤU GIÁ ĐẤT Ở LÊN TỚI 50% ĐTDT 7-1-2026
- TRIỂN VỌNG KẾT QUẢ KINH DOANH QUÝ 2-2025 NHÀ ĐẦU TƯ CẦN LƯU Ý ĐIỀU GÌ? Webinar dành cho Hội viên
- ĐÁNH THUẾ TIỀN GỬI TIẾT KIỆM? LIỆU NGƯỜI DÂN CÓ RÚT TIỀN? ĐTDT 19-02-2025
- LÃI SUẤT LIỆU CÓ TĂNG NHƯ NGÂN HÀNG NƯỚC NGOÀI DỰ BÁO? ĐTDT 05-03-2025
- NGÂN HÀNG DẪN SÓNG CHỨNG KHOÁN VÀ NỀN KINH TẾ ĐTDT 07-03-2025
- TRIỂN VỌNG KẾT QUẢ KINH DOANH QUÝ IV-2025 WEBINAR ĐẶC QUYỀN HỘI VIÊN
- LÃI SUẤT TĂNG CAO, NHÀ ĐẦU TƯ MUA LÚA NON ĐỐI MẶT RỦI RO GÌ? ĐTDT 03-12-2025
- TRIỂN VỌNG KẾT QUẢ KINH DOANH QUÝ 3-2025 KỲ VỌNG KHỞI SẮC? Webinar
- LÃI SUẤT CHO VAY TĂNG NHẸ THỊ TRƯỜNG BẤT ĐỘNG SẢN NHỮNG THÁNG CUỐI NĂM? ĐTDT 19-09-2025
- FED & CUỘC HỌP CUỐI CÙNG TRONG NĂM ĐTDT 16-12-2024
- LÃI SUẤT CÒN TĂNG ĐẾN BAO GIỜ? ĐTDT 18-12-2024
- TĂNG TRƯỞNG TÍN DỤNG TĂNG VỌT T6, TIỀN CHẢY VÀO ĐÂU TRONG BẤT ĐỘNG SẢN? TCBDS
- VIỆT NAM TĂNG TRƯỞNG GDP 6.93% TRONG QUÝ II-2024 NHỊP ĐẬP THỊ TRƯỜNG 72
- LÃI SUẤT HUY ĐỘNG TĂNG, THẾ KHÓ NGÀNH NGÂN HÀNG? ĐTDT 21-06-2024
- TĂNG LƯƠNG CƠ SỞ TỪ 1-7 NHỊP ĐẬP THỊ TRƯỜNG 70
- NHNN YÊU CẦU ĐẨY MẠNH TĂNG TRƯỞNG TÍN DỤNG, PHẤN ĐẤU HẾT QUÝ 2-2024 ĐẠT 5-6% NHỊP ĐẬP THỊ TRƯỜNG
- GDP QUÝ I TĂNG 5,66%, TÍN DỤNG BẮT ĐẦU TĂNG TRƯỞNG DƯƠNG
- CHỨNG KHOÁN GIẢM MẠNH, 1,8 TỶ ĐÔ SANG TAY, VIC-VRE CỨU TTCK - Đi theo dòng tiền
- Tín dụng tăng 300K tỷ trong 10 ngày cuối năm, NHNN giao chỉ tiêu tín dụng 2024 ĐTDT 03-01-2024
- 10 SỰ KIỆN KINH TẾ - TÀI CHÍNH CỦA NĂM 2023
- CUNG TIỀN VÀ LẠM PHÁT ở Việt Nam như thế nào? - CSCM
- THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VƯỢT ĐỈNH, NHƯNG VĨ MÔ ĐANG NÓI GÌ? Bàn tròn đầu tư
- PMI ĐẠT ĐỈNH 3 THÁNG, NHNN ƯU TIÊN TÍN DỤNG CHO NHÀ Ở XÃ HỘI VÀ KHU CÔNG NGHIỆP ĐTDT 01-6-2026
- LẠM PHÁT CAO, LÃI SUẤT CÓ GIẢM? ĐTDT 04-5-2026
- TẠI SAO THỊ TRƯỜNG GIẢM MẠNH CUỐI PHIÊN? ĐTDT 01-11-2024
- NGÂN HÀNG THÊM TIỀN ĐỂ CHO VAY Thông tư 26 và Tín dụng bất động sản
- TIỀN ĐÂU ĐỂ CHO VAY Giải thích rõ chỉ số kiểm soát thanh khoản của hệ thống ngân hàng (LDR)